GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ HƯƠNG CANH
Hương Canh là tên gọi chung của ba làng Hương Canh, Ngọc Canh, Tiên Canh của huyện An Lãng, trấn Sơn Tây đời Lê nay là thị trấn Hương Canh, huyện lỵ huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc.
Hương Canh có tên nôm là Kẻ Cánh, chữ “Cánh” của tên làng chính là lấy tên từ sản vật địa phương là giống lúa gié cánh nổi tiếng xưa kia. Tên nôm ấy cũng thuần túy như tên bao làng xã khác khi xưa ở miền Bắc như các làng Kẻ Mía (Đường Lâm- Sơn Tây). Kẻ Mỏ ( Minh Tân, Yên Lạc). Kẻ Bưởi (Yên Thái), Kẻ Mọc (Nhân Mục)…..
Tên Nôm của các làng khi xưa thường được đặt do lấy gợi ý từ đặc thù về cảnh quan, môi trường sinh thái nơi làng đó cư trú hoặc cũng có khi hình thành do có nhiều một loại lương thực hoặc hoa màu
Từ “ Kẻ” trong tiếng Việt cổ được hiểu là một vùng đất rộng lớn, dân cư đông đúc, cũng là trung tâm chính trị và văn hóa cả những vùng lân cận. Những làng ít dân cư, kinh tế kém phát triển hơn không cũng không được gọi là kẻ mà chỉ đơn thuần gọi là làng và tên gọi làng ấy, nhân dân trong vùng cũng quen gọi 3 làng Hương, Ngọc, Tiên là BA LÀNG CÁNH.
Như thế, tên ba làng là từ tên lúa mà ra. Trước hết là làng Hương, cái tên lấy từ mùi thơm cốm non để gọi,sau có thêm làng Ngọc, có làng Tiên. Tên chữ của ba làng được ghi vào thư tịch, vào thượng lương, các đầu của đình chùa là Hương Canh, Ngọc Canh và Tiên Canh. Có ba làng Canh như thế, nên sau này cả ba làng gộp lại mới thành Tam Canh
Ý nghĩa ấy được lưu truyền qua mấy câu ca :
Hương Canh tên gọi lúa thơm
Lúa Gié Kẻ Cánh mang ơn đất lành
Tên làng đã có từ lâu
Ghi trong thư tịch, câu đầu, thượng lương.
Làng Tiên, làng Ngọc, làng Hương
Cùng thờ Lục vị Đại vương thành hoàng
Xem trong sử sách rõ ràng
Gié Cánh đặc sản ba làng Hương Canh.
Hương Canh xưa các cụ truyền lại, làng được sông Cánh bao quanh như hình quả bầu nậm, lấy nguồn đỉnh ngọn núi Độc Tôn
Cứ trong địa lý mà suy
Ta nay được thế y như quả bầu
Đôi bên hổ phục long chầu
Con sông uốn khúc nhịp cầu bắc ngang
Bên Lò Ngói, bên Lò Cang
Bên thì chợ Cánh quán hàng như nêm
(Vè làng Cánh- cụ giáo Phan-1884)
Bản đồ hành chính Hương Canh và các vùng phụ cận (Bấm vào đây để tải)
Trong các thư tịch đời Lý Trần, Hương Canh chưa được nhắc nhiều tới các sách sử có nói về trận chiến đấu của quân Trần (Trần Thái Tông và Lê Phụ Trần chỉ huy) nhằm trì hoãn bước tiến của quân Mông Cổ (Ngột Lương Hợp Thai) tại cánh đồng Bình Lệ (nay thuộc huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc, bắc Hà Nội khoảng 30 km , trong cuộc Kháng chiến chống Mông Cổ 1258. Tại đây, quân Mông Cổ vượt Sông Hồng dùng kị binh tiến công từ nhiều phía. Quân Trần (Lê Phụ Trần) chống cự mãnh liệt nhưng không chế ngự được kị binh trên địa hình trống trải nên phải rút về Phù Lỗ, phá cầu và bố trí ở nam sông chặn địch . Theo nhà sử học Đào Duy Anh thì Bình Lệ Nguyên là huyện Bình Nguyên, đời Mạc đổi là Bình Tuyền sau lại đổi là Bình Xuyên tức huyện Bình Xuyên, Vĩnh Yên sau này. Nó nằm tại xã Tam Canh giáp giới giữa Vĩnh Yên và Phúc Yên ngày nay.
Tuy nhiên, ngày nay không thấy dấu tích của trận đánh xưa và ngay cả trong những câu chuyện xa xưa của nhân dân nơi đây cũng chưa nhắc tới sự kiện này. Hay là lịch sử 800 năm đã xóa nhòa đi tất cả, vả lại trong phần phân tích phía sau thì mãi đến năm cuối thể kỷ XIX thì Hương Canh mới thuộc Bình Xuyên , trước đó Bình Nguyên hay Bình Tuyền là đất đai của Thái Nguyên, điều này cần được tìm hiểu thêm.
Theo sử sách và niên biểu còn lại qua văn bia, Hương Canh đời Trần thuộc huyện Yên Lãng, Châu Tam Đái, lộ Đông Đô. Châu Tam Đái khi ấy gồm 6 huyện Phù Long (gần huyện Vĩnh Tường hiện nay), Yên Lãng (Mê Linh, một phần Bình Xuyên hiện nay), Phù Ninh (Phù Ninh hiện nay), Yên Lạc (Yên Lạc hiện nay), Lập Thạch (Lập Thạch hiện nay), Nguyên Lang (một phần Phù Ninh hiện nay).
Vùng đất Tam Đái đất đai trù phú, trai giỏi cày cấy, gái chăm việc tầm tang, vì thế xa xưa người ta đã có câu nói
“Thứ nhất Tam Đái, thứ nhì Khoái Châu” .
Những năm đầu Lê Sơ, Vua Lê Thái Tổ chia đất thành 5 đạo: Đông, Tây, Nam, Bắc (tương ứng với Bắc Bộ ngày nay) và Hải Tây (từ Thanh Hóa vào đến Thuận Hóa). Hương Canh thuộc Tây đạo
Năm 1466 vua Lê Thánh Tông chia cả nước thành 12 đạo thừa tuyên Hương Canh thuộc thừa tuyên Quốc Oai
Năm Quang Thuận thứ 9 đời nhà Lê tức năm 1469, vua Lê Thánh Tông thực hiện cải cách trên nhiều lĩnh vực trong đó có việc chia lại các làng xã,đổi tên châu thành phủ, đổi tên thừa tuyên Quốc Oai ra thừa tuyên Sơn Tây. Đến năm 1490 đổi thừa tuyên thành trấn, phía dưới có các huyện, dưới các huyện, phủ. Ba làng Cánh khi đó thuộc phủ Tam Đái, huyện An Lãng, trấn Sơn Tây. Trấn Sơn Tây ở phía Tây kinh thành Thăng Long do đó cũng được gọi là xứ Đoài (trong bát quái của Kinh Dịch, cung Đoài đại diện cho hướng Tây). Vì thế từ xa xưa 3 làng cánh đã nổi tiếng qua câu ca dao
“Xứ Nam(1) nhất chợ Bằng Gồi(2)
Xứ Bắc(3): Vân Khám(4): xứ Đoài: Hương Canh”
Xứ Nam là xứ Sơn Nam là các tỉnh Hà Nam, Ninh Bình, Nam Định, Thái Bình và một phần các tỉnh Hưng Yên, Hà Nội ngày nay.
Làng Bằng Gồi nay thuộc huyện Thường Tín phía Nam thành phố Hà Nội (Hà Tây cũ) .
Xứ Bắc tức xứ Kinh Bắc là Bắc Ninh, Bắc Giang, một phần Hưng Yên và huyện Hữu Lũng -Lạng Sơn ngày nay.
Làng Vân Khám nay thuộc xã Hiên Vân, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh.
Đời Nguyễn, năm Minh Mệnh thứ 2 (1821) phủ Tam Đái đổi tên là phủ Tam Đa.
Sang năm thứ 3 (1822), đổi tên là phủ Tam Đa thành Vĩnh Tường, trấn Sơn tây ra tỉnh Sơn Tây.
Năm 1832, trích 2 huyện Yên Lạc và Yên Lãng thành lập phân phủ Vĩnh Tường; phủ Vĩnh Tường còn lại 3 huyện: Bạch Hạc, Lập Thạch, Tam Dương.
Năm 1890, phân phủ Vĩnh Tường giải thể trong công cuộc chia để trị của thực dân Pháp.
Thực hiện chính sách cai trị trên, các tỉnh Sơn Tây, Bắc Ninh, Thái Nguyên bị cắt xén bớt đi, các tỉnh mới – trong đó có Vĩnh Yên, Phúc Yên lần lượt ra đời.
Ngày 6-1-1890, Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định thành lập đạo Vĩnh Yên bao gồm phủ Vĩnh Tường, 5 huyện thuộc tỉnh Sơn Tây (là Bạch Hạc, Lập Thạch, Tam Dương, Yên Lạc, Yên Lãng), huyện Bình Xuyên của tỉnh Thái Nguyên và một phần huyện Kim Anh của tỉnh Bắc Ninh. Lỵ sở của đạo Vĩnh Yên đặt tại Hương Canh nên nhân dân lúc bấy giờ còn gọi Vĩnh Yên là tỉnh Cánh.
Thời nhà Trần, huyện Bình Xuyên có tên là Bình Nguyên.
Năm 1469, Bình Nguyên đổi thành huyện Bình Tuyền.
Năm 1841, Bình Tuyền được đổi lại thành huyện Bình Xuyên.
Thời nhà Nguyễn, Bình Xuyên thuộc phủ Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
Năm 1890, Bình Xuyên thuộc tỉnh Vĩnh Yên mới thành lập, huyện lị là Đạo Tú.
Tuy nhiên đến ngày 12 tháng 4 năm 1891, Toàn quyền Đông Dương lại ra Nghị định giải thể đạo Vĩnh Yên và giao cho công sứ tỉnh Sơn Tây quản lý, như vậy đất tỉnh Sơn Tây thêm huyện Bình Xuyên, Hương Canh lại trở về với tỉnh Sơn Tây.
Hơn 8 năm sau, ngày 29 tháng 12 năm 1899, tỉnh Vĩnh Yên mới được tái lập, tỉnh lỵ đặt tại xã Tích Sơn huyện Tam Dương.
Ngày 6/10/1901, huyện Yên Lãng của tỉnh Vĩnh Yên được tách ra, cùng với phủ Đa Phúc, huyện Kim Anh, một phần huyện Đông Khê (thuộc phủ Từ Sơn của tỉnh Bắc Ninh) lập thành tỉnh mới Phù Lỗ.
Tuy nhiên phần đất phía Đông Bắc của huyện Yên Lãng bao gồm là hai tổng Hương Canh và Yên Lãng (vùng Thanh Lãng & Phú Xuân) được giữ lại Vĩnh Yên để nhập vào Bình Xuyên .
Hương Canh trở thành huyện lỵ huyện Bình Xuyên
“Quê em ở Vĩnh Yên thành,
Bình Xuyên là huyện, Hương Canh là làng”
Huyện Bình Xuyên lúc này gồm đất đai ba huyện: Bình Xuyên- Yên Lãng- Tam Dương
Hành chính khá ổn định trong khoảng nửa đầu thế kỷ XX, Hương Canh vẫn là huyện lỵ của Bình Xuyên.
Có một số tài liệu nói rằng khoảng năm 1841 đất huyện Bình Xuyên cắt về Sơn Tây (Địa chí Vĩnh Phúc) hoặc Hương Canh là tổng trước kia thuộc huyện Bình Tuyền đều không có cơ sở. Vì thực tế năm 1891 mới giải thể đạo Vĩnh Yên hành chính lại lệ thuộc và Sơn Tây, còn Bình Tuyền thì đã đổi thành Bình Xuyên từ năm 1841 không có việc Hương Canh thuộc Bình Tuyền hay Quốc Oai gì cả…
(Sách Lịch sử đảng bộ xã Hương canh có trích dẫn:Tổng Hương Canh Thuộc huyện Bình Xuyên tỉnh Thái Nguyên.Trước kia Bình xuyên có tên là Bình Nguyên, đến đời Lê Hồng Đức đổi tên là Bình Tuyền. Năm Thiệu Trị thứ nhất (1841) đổi tên là Bình Xuyên thuộc tỉnh Thái Nguyên
Sách dư địa chí Vĩnh Phúc- Nguyễn Xuân Lân- có ghi “ Có thể trong khoảng thời gian 1842 đất đai của Tam Đái được cắt về Bình Xuyên”
Sách danh nhân Bình Xuyên: Hương Canh liên tục là huyện lỵ của Bình Xuyên từ năm 1842….
Và còn rất nhiều bài được đăng trên tạp chí Vĩnh Phúc với nội dung sai như vậy…..)
Sau ngày cách mạng tháng 8 thành côngthực hiện chủ trương sát nhập xã nhỏ thành xã lớn của chính phủ vào tháng 4 năm 1946, ba làng Cánh sát nhập thành một xã gọi là xã Tam Canh là địa giới của thị trấn Hương Canh ngày nay tuy nhiên cái tên Tam Canh cũng được gọi từ trước cách mạng . Trong tờ khai của chức sắc làng năm 1938 thì đã có 3 chữ TAM CANH MIẾU 三粳庙được đắp miếu Thượng 。
Nghị định số 03 TTg ngày 12 tháng 2 năm 1950 của Thủ tướng Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà. Vĩnh Yên và Phúc Yên sát nhập thành Vĩnh Phúc. Lúc này Tam Canh nằm trong vùng tạm chiếm của thực dân Pháp.
Sau hiệp định Genève 1954, Pháp rút khỏi Vĩnh Yên, rồi cải cách ruộng đất năm 1955 xã Tam Canh lại được thay đổi tên gọi trong nội bộ bằng việc hình thành các hợp tác xã những năm 60.
Làng Hương Canh được chia ra, sát nhập vào làng Ngọc Canh gọi là Hương Ngọc ,phần còn lại sát nhập vào HTX Tiên Hường.
Đến lúc này cái tên HƯƠNG CANH bị mất khỏi tên địa danh hành chính sau nhiều thế kỷ thăng trầm của lịch sử đất nước. Lớp người sinh ra trong vùng chỉ biết qua các tên : thôn Tiên Hường và thôn Hương Ngọc, xã Tam Canh.
Ngày 26-1-1968, Uỷ ban thường vụ Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra Nghị quyết số 504-NQ/TVQH tiến hành hợp nhất hai tỉnh Phú Thọ và Vĩnh Phúc thành tỉnh Vĩnh Phú.
Ngày 5 tháng 7 năm 1977 huyện Mê Linh thành lập trên cơ sở hợp nhất 2 huyện Bình Xuyên và Yên Lãng, Tam Canh thuộc Mê Linh Hà Nội.
Ngày 26-2-1979, Vĩnh Phú chia huyện Tam Đảo thành 2 huyện Tam Đảo và Lập Thạch, Tam Canh lại được về với Vĩnh Phúc là xã lẻ của huyện Tam Đảo, phần đất còn lại của vẫn thuộc Hà Nội cho đến năm 1991.
( Huyện Tam Đảo cũ được thành lập ngày 5-7-1977, do hợp nhất huyện Lập Thạch với huyện Tam Dương)
Địa danh Tam Canh- Tam Đảo- Vĩnh Phú được ổn định trong khoảng 20 năm đến T
Ngày 1-1-1997 tỉnh Vĩnh Phúc chính thức được tái lập và đi vào hoạt động, tỉnh lỵ là Vĩnh Yên . Lúc này Tam Canh là xã của huyện Tam Đảo tỉnh Vĩnh Phúc. Còn huyện lỵ của Tam Đảo là xã Thanh Vân. Khi ấy khoảng cách từ Hương Canh tới tỉnh lỵ (Vĩnh Yên) còn gần hơn cả so với khoảng cách tới huyện lỵ (Thanh Vân)
Ngày 9-6-1998, lại tách huyện Tam Đảo thành 2 huyện Tam Dương và Bình Xuyên. Như vậy đến thời điểm này, huyện Tam Đảo không còn tồn tại.
Ngày 1/9/1998, huyện Bình Xuyên chính thức đi vào hoạt động xã Tam Canh đổi mang tên cũ HƯƠNG CANH với tư cách là thị trấn huyện lỵ của hơn 20 năm về trước, Hương Canh được chia thành các tổ dân phố trên cơ sở những xóm nhỏ của làng xưa.
Bắc Ninh, tháng 1, năm 2012
Trần Ngọc Đông
Hương Canh, thị trấn huyện lỵ Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc; nằm dọc theo QL2 và đường sắt Hà Nội – Lào Cai, cách Hà Nội khoảng 45 Km; nổi tíếng xưa và nay với nghề gốm qua các sản phẩm vại sành và ngói: [1]
- “Ai về mua vại Hương Canh
- Cho Mai lấy Trúc, cho anh lấy nàng”.
Đặc sản của Hương Canh có “Bánh hòn – Cháo se”. Có khá nhiều giai thoại quanh hai món ăn rất đặc trưng này. Đám cưới chân quê chỉ tổ chức vài mâm “cháo se”, “bánh hòn”; mà những đôi uyên ương vẫn sống đến đầu bạc răng long. Ngoài ra, các cuộc vui gặp mặt bạn bè, mừng con đầy tháng thôi nôi, sinh nhật, mừng thọ, lên lão… rất trang trọng chỉ bằng hai thứ đặc sản đó. [2] Trong những năm của thập kỷ 70 (TK 20), Trường Đại học Xây dựng Hà Nội sơ tán lên Hương Canh.
LỊCH SỬ BỐT ĐEN Ở HƯƠNG CANH.
LỊCH SỬ BỐT ĐEN Ở HƯƠNG CANH.
Nhân việc công ty xây dựng thi công tuyến đường ven sông Cánh trong quá trình thi công trong đã gặp phải chiếc lô cốt đã có từ lâu.
Ad liền mang thắc mắc thử hỏi xem ai biết lịch sử quê nhà thì cho biết của cái Bốt này được xây dựng thời gian nào, lý do xây dựng là gì mà có ở nơi đây?
Đáng tiếc là qua nhiều câu trả lời, tuy rất nhiều người biết đó gọi là Bốt Đen của Pháp. Nhiều người còn nhớ đó là chính là hầm rắn độc trong truyền thuyết của lứa học sinh cấp 1 thời những năm chín mươi, đó lại là nơi nuôi gà ở vườn bạch đàn, nơi chụp điện X-Quang… nhưng không ai biết là xây dựng từ bao giờ cả. Một điều hơi buồn cho những người trẻ tuổi ở quê hương.
1. TÊN GỌI VÀ VỊ TRÍ CỦA BỐT ĐEN
Bốt Đen là tên gọi dân dã của người Hương Canh một lô cốt của Pháp ở vị trí đầu cầu Treo, cũng là để phân biệt với Bốt Đỏ ở xóm Vam Dộc.Hai cái tên này dựa trên màu sơn của chúng. Bốt Đen thì được sơn màu Đen, Bốt Đỏ thì sơn màu đỏ. (Bốt Đỏ ít người biết ở vì ở trong làng).
Bốt Đen án ngữ tại đầu Cầu Treo cũ (chiếc cầu cũ đã phá nay còn hai trụ cầu). nay thuộc khu đất chợ tạm, bãi kéo song thị trấn Hương Canh, ngay gần kề lối vào trường Tiểu học Hương Canh A
2. THỜI GIAN XÂY DỰNG VÀ CHỨC NĂNG CỦA BỐT ĐEN
Theo sách lịch sử Đảng bộ xã Tam Canh. Tóm tắt diễn biến lịch sử của địa phương như sau:
Ngày 18-8-1949 thực dân Pháp tấn công xã Tam Canh. Trước đó vào ngày 16-8-1949 nhân dân Tam Canh đã theo lệnh của chính phủ đã tản cư lên các xã thuộc vùng núi Tam Đảo. Do lực lượng chênh lệch nên Pháp đã nhanh chóng chiếm được Tam Canh.
Sau khi chiếm được Tam Canh, là nơi huyết mạch trong vùng. Pháp đã lập ra chính quyền tay sai gọi là xã ủy. Có tên thông ngôn Trịnh Duy Lãng làm nhân mối cho chúng.
Về quân sự bọn địch xây dựng hệ thống đồn bốt tháp canh chốt những vị trí quan trọng đầu mối giao thông và quân sự. Bốt THÀNH ĐEN nơi UBND xã Tam Canh làm việc hiện nay thường xuyên đóng một tiểu đoàn lính. Trong khu bốt này chúng xây hai lô cốt bằng xi măng kiên cố hai lô cốt này và lô cốt cầu Treo tạo thế chân kiềng bảo vệ vững chắc khu Bốt Đen.. (Sách đã dẫn trang 38)
Như vậy Bốt Đen không chỉ là tên gọi một lô cốt mà cũng là là tên gọi chung cả khu đất có ngôi nhà hai tầng và các lô cốt lân cận.
Thời gian xây các lô cốt này trong khoảng từ tháng 9~11 năm 1949. Với nhiệm vụ là chốt chặn quân sự đầu cầu, ngăn chặn lực lượng Việt Minh tiến công cũng là nơi phòng thủ khi có tấn công bằng hỏa lực. Từ tòa nhà của bộ chỉ huy có hệ thống hào kín thông ra các lô cốt, hệ thống hào này còn khá nguyên vẹn cho đến khi bị san lấp trong quá trình làm đường, bãi kéo song.
Đến mùa hè năm 1954, sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Pháp buộc phải rút quân, chúng đã tiêu hủy các hệ thống phòng thủ bằng thuốc nổ, tuy nhiên do các lô cốt và hệ thống hầm hào xây kiên cố bằng xi măng từ Pháp chuyển sang nên chỉ phá hủy được 2/3 lô cốt tại khu vực này, hệ thống hầm hào cũng chỉ phá hủy được một phần trước khi rút đi.
3. LỊCH SỬ LÀNG XUNG QUANH CHIẾC BỐT ĐEN.
Nhân đây, cùng xem lại lịch sử làng liên quan đến Bốt Đen.
Thời xưa tại vị trí Bốt Đen bây giờ có một chiếc cổng làng rất đẹp gọi là cổng Cầu Treo đây là cổng chính trong hệ thống chín chiếc cổng của làng.
Hai bên cổng có đôi câu đối
“Nhất điều thạch lộ thông Tam Đảo
Tứ diện giang khung tỏa nhị kiều”
Nghĩa là:
Một con đường đá thông lên Tam Đảo
Bốn mặt sông quanh khóa bởi hai cầu
Câu đối tả địa thế của làng Hương Canh xưa kia có dòng sông Cánh bao quanh, dân cư ở tập trung giới hạn trong khoảng hai chiếc cầu bắc qua sông (Cầu Lò Cang & Cầu Treo). Lại có con đường rải đá ( đường quốc lộ 2 cũ bây giờ) thông lên tận vùng Tam Đảo.
Sau khi lực lượng Việt Minh giành chính quyền sau Cách mạng tháng 8-1945 và toàn quốc kháng chiến nổ ra vào 12/1946 cuộc sống nhân dân ở Hương Canh không có nhiều biến động. Mãi đến năm 1949 trong các chiến dịch tiến quân lên trung du, giặc Pháp mới chiếm được Hương Canh vào ngày 18/8/1949
Tại vị trí đầu làng vốn có một ngôi nhà hai tầng xây năm 1938 lai Pháp của một gia đình bị giặc chiếm làm sở chỉ huy. Từ đó cổng làng đã bị phá để xe quân sự kéo pháo tiến vào bãi pháo (nay là khu vực trạm y tế).
Các hệ thống hầm hào được Pháp cho các tù binh và dân phu bị bắt xây dựng thành một hệ thống liên hoàn từ bộ chỉ huy tới các vị trí phòng thủ tại đầu cầu.
Không chỉ xây dựng bốt tại đầu cầu Treo, còn có nhiều bốt tại khu vực khác như : Bốt Đỏ (xóm Vam Dộc), bốt Cầu Chợ (Cầu Lò Cang) bốt Chợ Cánh (nay là hiệu thuốc Nhân), bốt cổng Cổng Gợ.
Ngày 23/11/1949 khi những người dân Hương Canh đã đi tản cư lại được lệnh của chính phủ ta cho phép quay trở lại làng thì đã thấy hệ thống đồn bốt đang được xây dựng gần xong. Dân cư trong làng tạm thời phải sống trong những nhà tập trung một thời gian rồi mới được về nhà cũ (khi đó, vùng tản cư gọi là vùng tự do, về lại vùng Pháp chiếm gọi là về Tề).
Trong thời gian Pháp chiếm Hương Canh và xây đồn bốt phòng thủ, thực tế không có trận đánh lớn đánh kể nào giữa lực lượng chủ lực Việt Minh và giặc Pháp diễn ra. Lần tấn công có tính uy hiếp gần kề nhất của các chiến sĩ Việt Minh khi tràn xuống đồng bằng trong chiến dịch Trần Hưng Đạo vào năm 1951 thì quân ta chỉ tiến tới địa phận xã Tam Hợp ngày nay. Và sau đó, do pháo binh của Pháp từ Miếu Thượng bắn yểm trợ đã gây thương vong lớn cho lực lượng Việt Minh nên quân ta lại phải rút lên chiến khu Việt Bắc.
Bốt Đen chỉ có những cuộc nổ súng lẻ tẻ khi quân du kích địa phương và bộ đội huyện C466 tấn công quấy rối đồn bốt của Pháp trên địa bàn.
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, Pháp buộc phải rút khỏi miền Bắc Việt Nam, Pháp tự rút khỏi Hương Canh vào ngày 2-8-1954. Trước khi rút giặc đã cho phá một số hệ thống phòng thủ và Cầu Chợ (Cầu Lò Cang.
Sau này, khi hòa bình lập lại, chính quyền ta tiếp quản sở chỉ huy của Bốt Đen và chỉ sử dụng ngôi nhà là trụ sở ủy ban trong nhiều năm sau, các hầm hào không được sử dụng nên dần bị lấp bỏ.
Từ năm 1956- 1962, toàn bộ khu đất ở đây khoảng 2ha được sử dụng làm trường ” Bồi dưỡng văn hoá các dân tộc” chủ yếu là các thanh niên dân tộc từ miền Trung đến Tây Nam bộ (thực chất là trường đào tạo và bồi dưỡng nguồn cho Cách mạng miền Nam)
Năm 1962, ngôi trường cấp 1 của xã được thành lập trong khu đất gần kề, vì thế người ta thường nói học Cấp 1 tại Bốt Đen. (Nay là Trường Tiểu Học A Hương Canh)
Đến những năm 90 khu vực lô cốt được cho đấu thầu cho thuê làm khu đất trồng cây và dịch vụ chụp điện X- Quang. Năm 2010, khu vực này được san lấp làm bãi kéo song và chợ Hôm. Những lô cốt và hệ thống hầm hào tưởng đã đi vào dĩ vãng chỉ còn trong ký ức của những người nhiều tuổi với những kỷ niệm tuổi thơ, không ngờ lại lại có dịp nhìn thấy, nhớ lại tuổi thơ tinh nghịch của lứa học trò cấp 1 năm nao.
Nay tuy Bốt Đen không được xếp là di tích lịch sử nhưng cũng là di tích chiến tranh, đã gắn bó với lịch sử của Hương Canh. Cái tên Bốt Đen đã gắn bó với hầu hết lứa học sinh của làng.
Chưa biết việc triển khai xây dựng sẽ ra sao, nhưng nếu còn giữ được cũng là một chứng tích cho cuộc kháng chiến chống Pháp của dân tộc ta.



LỊCH SỬ MIẾU THƯỢNG HƯƠNG CANH
LỊCH SỬ MIẾU THƯỢNG HƯƠNG CANH
* * *
Miếu Thượng còn có tên gọi khác là Miếu Gió hoặc Miếu Mong là ngôi miếu cổ linh thiêng nằm tại gò Ngự bên bờ sông Cánh thuộc Thị trấn Hương Canh huyện Bình Xuyên Tỉnh Vĩnh Phúc. Xưa kia Miếu là Miếu thờ chung của cả ba làng Cánh gồm Hương Canh, Ngọc Canh, Tiên Canh (Tiên Hường) nên cũng được gọi là Tam Canh Miếu.
Miếu Thượng thờ hai vị vua nhà Hậu Ngô là Thiên Sách Vương Ngô Xương Ngập và Nam Tấn Vương Ngô Xương Văn là hai con trai của anh hùng dân tộc Ngô Quyền, ngoài ra còn phối thờ các vị thần khác cùng là nhân thần của thời Hậu Ngô
Theo cách sách chính sử có chép lại, Ngô Quyền là người lãnh đạo quân ta đánh thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng năm 938, chấm dứt thời kỳ hơn 1.000 năm Bắc thuộc và mở ra một thời kỳ độc lập, tự chủ mới cho nước nhà.
Năm Kỷ Hợi (939), Ngô Quyền quyết định bỏ chức Tiết độ sứ, tự xưng vương lấy hiệu là Ngô Vương Quyền, thành lập một quốc gia độc lập, sử sách gọi ông là Tiền Ngô Vương.
Nhưng sau khi vua Ngô Quyền băng hà vào năm 944 đã ủy thác con trưởng là Ngô Xương Ngập cho đại thần Dương Tam Kha phò tá, nhưng Dương Tam Kha cướp ngôi, tự lập mình làm vua, xưng Dương Bình Vương.
Ngô Xương Ngập chạy về nhà một hào trưởng – Phạm Lệnh Công ở làng Trà Hương, Nam Sách (Hải Dương). Phạm Lệnh Công che chở cho Ngô Xương Ngập, đã ba lần đưa Ngô Xương Ngập vào rừng núi Hun Sơn đào mà trú ẩn, Dương Tam Kha ba lần sai quân đi bắt Ngô Xương Ngập mà không được. Dương Tam Kha lấy Ngô Xương Văn, con thứ hai của Ngô Quyền và Dương Như Ngọc làm con nuôi.
Năm 950, Dương Tam Kha sai Ngô Xương Văn đi đánh loạn hai thôn Đường, Nguyễn. Ngô Xương Văn dẫn quân quay lại lật đổ Dương Tam Kha. Xương Văn không giết Tam Kha, chỉ giáng xuống làm Chương Dương công. Ngô Xương Văn tự xưng làm Nam Tấn Vương, đóng đô ở Cổ Loa. Ngô Xương Văn cho người đón anh trai Ngô Xương Ngập về cùng làm vua, nước ta lúc đó có hai vua. Sử gọi là thời Hậu Ngô.
Tương truyền, vào thời Hậu Ngô, sau khi dẹp loạn Dương Tam Kha cướp ngôi, hai vua đã cùng nhau lên làm vua cai quản đất nước. Khi đất nước đương thuở thái bình hai vua cùng đoàn tuỳ tùng đi săn trong rừng Tam Đảo. Trên đường trờ về kinh đô Cổ Loa, khi thuyền qua một gò đất cao ráo ven sông Cánh có phong cảnh hữu tình, vua đã hạ lệnh nghỉ chân dựng trại tại gò để thịt thú khao quân.
Biết tin vua ngự tại làng, nhân dân trong làng lấy làm vui mừng, cùng chuẩn bị vật phẩm xin bái kiến để tiến dâng vua. Lúc được diện kiến long nhan, dân làng thấy hai vua nhân từ và khoan dung độ lượng lại không để dân chúng phải phục dịch thì lấy làm cảm ân công đức của các Ngài mà xin được lập sinh từ (đền thờ khi còn đang sống) vua thuận theo ý dân mà cho, lòng dân hoan hỷ mở tiệc cảm tạ hồng ân.
Sau khi vua đi rồi, gò đất vua đã hạ trại được gọi tên thành gò Ngự, nhân dân xây lập miếu thờ gọi là Miếu Mong với ý nghĩa dân làng luôn mong nhớ đức vua. Cánh đồng bên sông kia Cánh cũng được gọi là Đồng Mong
Về sau để tôn sùng chốn linh thiêng nơi vua ngự mà dân làng tôn xưng Miếu Mong thành tên Miếu Thượng với ý nghĩa là Miếu thờ tôn nghiêm cao nhất.
Theo tư liệu diền dã tại địa phương, các bô lão ở Hương Canh cho biết, khi vua hạ trại ở gò Miếu Thượng thì một vị đại thần phò tá hai vua là Đỗ Cảnh Thạc cũng hạ trại đóng quân trên một gò đất khác của khúc sông này cách đó không xa để bảo vệ trại nhà vua. Chỗ ấy sau cũng được xây thành Miếu gọi là Miếu Hạ để thờ ông.
Đỗ Cảnh Thạc có hiệu là Độc Nhĩ Vương, ông là tướng quân thời Ngô Quyền đã có công đánh đánh quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng và là đại thần phò tá hai vua thời Hậu Ngô.
Kể từ đó, hai ngôi miếu ngoài làng là Miếu Thượng và Miếu Hạ được nhân dân lập nên để ghi nhớ công ơn đức độ của các ngài đã ban cho ba dân. Sau khi hiển hoá về trời các ngài đã hoá thần hiển ứng phù trì cho dân làng được nhân khang vật thịnh. Hai ngôi miếu khi được dân làng cất dựng vừa là nơi thờ tự và cũng là nơi trấn giữ cho làng xóm được bình yên.
Nhân dân trong làng mỗi khi Miếu Thượng làm lễ, hễ cầu là tất ứng nên càng thấy Miếu linh thiêng hiển hiện mà tôn sùng quanh năm hương khói phụng thờ.
Đến đời Hậu Lê, nhân dân Ba làng làng Cánh đã xây dựng được ba ngôi đình to lớn khang trang, nên đã rước chân linh các vị thần được thờ tại Miếu Thượng về thờ tại ba đình và tôn làm Thành hoàng của Ba làng gọi là Lục Vị Đại Vương. Các vị ấy là con cả của Ngô Quyền là Thiên Sách Vương Ngô Xương Ngập được phong là Thiên Sách Hoàng Đế, con trai thứ củaNgô Quyền là Nam Tấn Vương Ngô Xương Văn được phong là Quốc Vương Thiên Tử và Đỗ Cảnh Thạc là tướng của Ngô Quyền, cùng 3 nhân thần khác được phối thờ là Linh Quang Thái Hậu, Khả Lã Nương Nương và Thị Tùng Phu Nhân.
Tuy nhiên, tuy đã được rước vào trong đình làng nhưng không quên sự tích các vua đã ngự tại nơi đây, dân làng vẫn tôn thờ Miếu Thượng nơi thờ chính của các ngài. Hàng năm, vào dịp đại tế tháng Hai âm lịch hàng năm, dân ba làng mở hội, rước kiệu từ ba đình ra Miếu tế lễ và xin chân nhang để mở đại tế trong ba đình làng. Vì thế từ đó mới có tục rước kiệu cùng nhau từ ba đình ra Miếu Thượng. Tục rước kiệu cũng là diễn tả lại việc năm xưa các làng đã cùng đón rước chân linh các vị vào thờ tại đình.
Trước kia tại cột trụ đình Hương Canh có đối câu đối ghi lại việc này:
Sinh vi vương vi đế, hóa vi thánh vi thần, Ngô quốc trung hưng quang cựu nghiệp
Công như hải như sơn, đức như thiên như địa, Hương Canh hành tại kỷ hồng ân.
Nghĩa là:
Sống là vương đế, thác là thánh thần, làm sáng lại nghiệp xưa, dựng lại Ngô triều
Công như sông núi, đức như đất trời, ghi nhớ công ơn dừng chân ở tại Hương Canh
Ca dao cổ ở Hương Canh có câu:
“Tháng bảy thì được xem bơi,
Tháng hai xem rước được chơi ba đình”.
Ngày nay, tục rước kiệu ra Miếu Thượng xin chân nhang về ba đình đã được khôi phục vào lễ răm tháng hai, được tổ chức rất long trọng.
Những năm trước Cách mạng tháng 8, tại Miếu Thượng dân làng cắt cử một cụ từ trông coi, sắp sửa đèn nhang những ngày tuần tiết hay khi làng mở hội. Trong đình nếu có ngày tế thì Miếu cũng được mở cửa để làm lễ.
Trước kia, tại Miếu Thượng, không chỉ có ngày Rằm tháng hai hàng năm là lễ chính trong năm được tổ chức tế lễ tại Miếu, mà vào rằm tháng Bảy và ngày lễ hạ điền Rằm tháng 10 hàng cũng làm lễ lớn.
Vào lễ hạ điền rằm tháng 10, các hàng giáp (dòng họ nội tộc) trong làng mổ lợn, cạo lông sạch rồi cùng khiêng ra Miếu Thượng để tưởng nhớ lại tích các vị Thành Hoàng đã nghỉ chân hạ trại thịt thú rừng khao quân, ngoài ra trong lễ Hạ Điền cũng tổ chức lễ tế Thần Nông để mong cầu mong cho mùa màng bội thu. Khi tế lễ xong, làng cử một cụ già xuống ruộng công của làng liền kề với Miếu cấy một hai nắm mạ tượng trưng, mở đường cho mùa cày chiêm. Vì thế gọi là tiệc tháng mười gọi Hạ điền hay lễ xuống đồng.
Làm lễ xong các giáp lại khiêng lợn về về các nhà thờ các giáp để cúng và ăn cỗ của giáp đó tại nhà trưởng họ. Xưa ba làng có 29 giáp, làng Hương Canh có 9 giáp, Ngọc Canh có 8 giáp, Tiên Hường 12 có 12 giáp. Mỗi giáp có một tên gọi để gọi phân biệt với nhau như Trần- Thượng Trong, Trần Thượng Vam, Trần- Chấn Trung, Trần- Nam Khang, Nguyễn Hữu hay Nguyễn Khắc…nhưng chỉ trong 8 tên họ là: Trần, Nguyễn Dương Đường – Trương, Phạm, Tạ, Lê. Tuy vậy quan hệ các giáp là độc lập và không có huyết thống nội tộc.
Ngày lễ hạ điền rằm tháng Mười, người hàng giáp đầy đường, khi khiêng lợn ra Miếu khăn áo chỉnh tề rất ngộ nghĩnh, đến khởi nghĩa Tháng 8 năm 1945 mới bỏ hẳn.
Về kiến trúc, trước kia Miếu Thượng có kết cấu gồm miếu thờ chính theo kiểu chồng diêm theo lối hai tầng tám mái cùng hai nhà tả vu hữu vu ở hai bên. Bên trong miếu thờ chính có ban thờ trên cao và được đục chạm cổ khéo léo. Phía trước có sân rộng lát gạch Bát Tràng và bình phong đắp hoa văn nổi. Phía bờ sông được xây kè và có tường cao.
Theo tư liệu của viễn Viễn Đông Bác Cổ nay là tư liệu tại thư viện Viện thông tin Khoa học xã hội và và Viện Nghiên cứu Hán Nôm còn lưu trữ, Miếu Thượng đã được vua Tự Đức triều Nguyễn ban ba sắc phong vào năm Tự Đức thứ 3 (1850) và Tự Đức thứ 33 (1880). Sắc ban cho hai vua Thiên Sách Vương Ngô Xương Ngập và Nam Tấn Vương Ngô Xương Văn. Các đạo sắc phong này được ban cho thần là vua của tiền triều nên trong sắc có được ghi ban cho “Thiên Sách Vương Miếu” để đại diện cho thần thay vì ghi tên của vua để không phạm thượng. Trước kia các đạo sắc được thờ tại đình Hương Canh nhưng đã thất lạc cùng với đạo sắc khác của đình trong thời kỳ tạm chiếm 1949-1954.
Cũng theo tài liệu của Viện Viễn Đông Bác Cổ trong tập “Xã chí” ghi chếp vào năm 1938 hiện có ký hiệu AJ 05 nay lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm có ghi lại sơ đồ của Miếu Thượng và được ghi rõ với tên ghi TAM CANH MIẾU. Các phái viên của Viện Viễn Đông Bác Cổ sau khi khảo sát đình làng có mục sở thị ngôi miếu Thượng và có ghi vào hồ sơ nguyên văn như sau
“MIẾU HƯƠNG CANH, NGỌC CANH VÀ TIÊN HƯỜNG CÓ BA CÁI NHÀ, CÁI GIỮA CHỒNG DIÊM, ĐỤC CHẠM CỔ”
Kèm theo đó có hình vẽ mô phỏng sơ đồ Miếu Thượng. (Bản vẽ)
Với những dữ liệu lịch sử có được thì ngôi miếu cổ trong tư liệu khảo sát đã nêu cũng có thể được xây vào đời Lê cùng với niên đại của ba đình Hương Canh khoảng cuối thế kỷ XVII trên chính nền ngôi Miếu Mong xưa kia. Năm 1959 ngôi miếu cổ được hạ giải và không còn nhiều di vật còn đến hiện nay.
Tư liệu Xã Chí- Viện Viễn Đông Bác Cổ
Miếu Thượng nằm trên một gò đất rộng rãi và yên tĩnh ngoài làng, nơi đây trước kia vốn ít người qua lại, xung quanh miếu có nhiều cây cổ thụ um tùm, tất cả đã tạo nên một khung cảnh vô cùng cổ kính thâm nghiêm mà mỗi khi tới đây ai ai cũng như thấy lòng cung kính với ngôi miếu cổ của làng.
Vào thời kỳ tiền khởi nghĩa, Miếu Thượng là một cơ sở cách mạng quan trọng của lực lượng Việt Minh, những năm 1943 -1945. Miếu là một điểm họp và liên hệ của tổ chức cơ sở. Năm 1944-1945, Miếu là nơi cán bộ lãnh đạo của xã phản ánh tình hình, nhận tài liệu thông tin, trao đổi công việc, họp bàn thực hiện nhiệm vụ cho địa phương và là nơi liên hệ với các nơi khác trong huyện.
Năm 1959, do chủ trương và yêu cầu phục vụ xây dựng sản xuất thời điểm bấy giờ, Miếu Thượng bị dỡ phá dỡ hoàn toàn, vật liệu được chuyển về xây dựng một số công trình dân sinh khác
Năm 1995 nhân dân đã lập lại ngôi miếu nhỏ đơn sơ trên nền ngôi miếu cổ đã bị phá dỡ.
Năm 2008, được sự đồng thuận của nhân dân và chính quyền địa phương, Miếu Thượng được phục dựng và có kết cấu cơ bản như hiện nay.
Vào ngày 25/1/2014 Miếu Thượng được công nhận là di tích lịch sử cấp tỉnh theo quyết định 304/QĐ-UBND ngày 25/1/2014 của UBND tỉnh Vĩnh Phúc.
Ngày nay Miếu Thượng là một địa điểm nơi tín ngưỡng không chỉ của nhân dân Thị trấn Hương Canh mà còn của cả nhân dân trong vùng. Hằng năm nhằm ngày chính hội rằm tháng hai âm lịch, nhân dân theo lệ cũ tổ chức rước 3 kiệu từ ba đình ra Miếu xin chân nhang về thờ cùng với các hoạt động tổ chức dâng hương trang trọng theo nghi thức truyền thống.
Việc gìn giữ và phát huy những giá trị văn hoá cùng với những truyền thuyết dân gian của Miếu Thượng đã gắn liền với lịch sử phát triển của vùng đất Hương Canh ba làng Cánh ngàn năm văn hiến.
HOÀNH PHI CÂU ĐỐI TẠI MIẾU THƯỢNG HƯƠNG CANH
HOÀNH PHI:
Phiên âm & chữ Hán:
卓立帝王
TRÁC LẬP ĐẾ VƯƠNG
Dịch nghĩa: Đế vương xuất chúng.
Ý nghĩa ca ngợi các vị vua của Triều Ngô là nhưỡng người kiệt xuất.
CÂU ĐỐI:
靈 地 輿 圖 南 正 統
吳 朝 顯 赫 史 前 編
Linh địa dư đồ nam chính thống
Ngô triều hiển hách sử tiền biên
Dịch nghĩa:
Địa linh cơ đồ nước Nam chính thống
Triều Ngô hiển hách sử sách còn ghi
TƯ LIỆU ẢNH
Toàn cảnh Miếu Thượng ngày nay
Bằng công nhận Di tích Lịch sử Văn hoá cấp tỉnh cấp năm 2014
PHỤ LỤC:
Đình Hương Canh- Ảnh tư liệu Viễn Viễn Đông Bác cổ năm 1926
Đình Hương Canh- Ảnh tư liệu Viễn Viễn Đông Bác cổ năm 1937
Đình Ngọc Canh năm 1997- Ảnh Nguyễn Văn Kự
Đình Tiên Hường năm 1937- Ảnh tư liệu Viễn Viễn Đông Bác Cổ
CÁC ĐẠO SẮC PHONG CỦA TAM CANH
(Theo tư liệu Viện Nghiên cứu Hán Nôm & Viện Thông tin KHXH)
NHỚ VỀ MIẾU THƯỢNG
Tác giả: Trần Ngọc Bích (1937)
Bài thờ được sáng tác năm 1999 khi Miếu Thượng chưa được phục dựng
Nhớ về Miếu Thượng quê tôi.
Bên bờ sông Cánh một thời vàng son
Miếu xưa cảnh cũ không còn,
Để cho nắng gió mỏi mòn ngóng trông.
Vui buồn mấy vị lão nông
Chiều chiều ngắm cảnh bên sông chạnh lòng
Đâu còn cổ kính rêu phong
Đâu còn bến nước bên dòng sông quê.
Chiều thu nhuộm đỏ lá đề
Ai sang Thanh Lãng ai về Tân Phong
Ai qua đồng Máy, đồng Mong
Nhìn về Miếu Thượng thấy lòng vấn vương
Nhớ người gối đất nằm sương
Miếu là điểm hẹn trên đường đánh Tây.(*)
Mùa hè nóng nực qua đây
Cây xanh gọi gió về vây quang mình
Còn trong thế giới tâm linh
Miếu cho thập loại chúng sinh cậy nhờ
Xuân về chim hót líu lo
Nhớ bao kỷ niệm tuổi thơ mục đồng
Thăng trầm mưa nắng bão giông
Miếu về nhà Miếu dòng sông thẫn thờ….
Nỗi niềm hoài cổ ngẩn ngơ
Cũng xin ghi lại bằng thơ gọi là….
(Miếu Thượng – 1999)
Tài liệu tham khảo:
- Đại Việt Sử Ký Toàn Thư- Bản dịch Viện Sử học
- Xã chí Hương Canh- Viện nghiên cứu Hán Nôm
- Thần tích thần sắc – Viện Thông tin Khoa học xã hội
- Hồ sơ di tích Miếu Thượng.
- Kể chuyện làng ta – Cụ Nguyễn Khắc Miễn (1919-1991)
- Tư liệu điền dã tổng hợp của Trần Ngọc Đông
Thiên sách vương Ngô Xương Ngập qua nguồn dã sử
Thiên sách vương Ngô Xương Ngập qua nguồn dã sử
Nguồn: ngotoc.vn
Ngô Xương Ngập là con trưởng Đức Vương Ngô Quyền, từng tham gia trận chiến đánh thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng năm 938, xưng Thiên Sách Vương kế vị vua cha, nhưng chính sử viêt về vai trò của ông khá mờ nhạt. nên hậu thế biết về ông không nhiều. Qua các bản Ngọc phả và truyền thuyết dân gian ta tìm hiểu thêm về cuộc đời và sự nghiệp của ông.

Hiến kế bãi cọc Bạch Đằng
Sau khi giết Tiết độ sứ Dương Đình Nghệ để tiếm quyền, nghe tin Ngô Quyền từ Ái Châu tập hợp binh mã chuẩn bị đem quân ra đánh báo thù, kẻ phản chủ Kiều Công Tiễn rất sợ hãi vội cho người sang cầu cứu Nam Hán. Vua Nam Hán Lưu Cung muốn nhân cơ hội này chiếm lấy nước ta, bèn phong cho con trai là Hoằng Tháo làm Tĩnh Hải quân, tước Giao Vương, đem quân sang cứu Công Tiễn. Tự thân vua Hán cầm quân đóng ở Hải Môn để làm thanh viện.
Theo Đại Việt Sử ký Toàn thư, vua Nam Hán hỏi kế ở Sùng văn sứ là Tiêu Ích, Ích nói: “Nay mưa dầm đã mấy tuần, đường biển thì xa xôi nguy hiểm, Ngô Quyền lại là người kiệt hiệt, không thể khinh suất được. Đại quân phải nên thận trọng chắc chắn, dùng nhiều người hướng đạo rồi sau mới nên tiến”. Vua Hán không nghe, sai Hoằng Tháo đem chiến thuyền theo sông Bạch Đằng mà vào, muốn đánh Quyền, nhưng Quyền đã giết Kiều Công Tiễn rồi.
Quyền nghe tin Hoằng Tháo sắp đến, bảo các tướng tá rằng: “Hoằng Tháo là đứa trẻ khờ dại, đem quân từ xa đến, quân lính còn mỏi mệt, lại nghe Công Tiễn đã chết, không có người làm nội ứng, đã mất vía trước rồi. Quân ta lấy sức còn khỏe địch với quân mỏi mệt, tất phá được. Nhưng bọn chúng có lợi ở chiến thuyền, ta không phòng bị trước thì thế được thua chưa biết ra sao. Nếu sai người đem cọc lớn vạt nhọn đầu bịt sắt đóng ngầm ở trước cửa biển, thuyền của bọn chúng theo nước triều lên vào trong hàng cọc thì sau đó ta dễ bề chế ngự, không cho chiếc nào ra thoát”.
Định kế rồi, bèn cho đóng cọc ở hai bên cửa biển. Khi nước triều lên, Quyền sai người đem thuyền nhẹ ra khiêu chiến, giả thua chạy để dụ địch đuổi theo. Hoằng Tháo quả nhiên tiến quân vào. Khi binh thuyền đã vào trong vùng cắm cọc, nước triều rút, cọc nhô lên, Quyền bèn tiến quân ra đánh, ai nấy đều liều chết chiến đấu. Quân Hoằng Tháo không kịp sửa thuyền mà nước triều rút xuống rất gấp, thuyền đều mắc vào cọc mà lật úp, rối loạn tan vỡ, quân lính chết đuối quá nữa. Quyền thừa thắng đuổi đánh, bắt được Hoằng Tháo giết đi. Vua Hán thương khóc, thu nhặt quân lính còn sót rút về”.
Theo Ngọc phả Từ Lương Xâm còn gọi là “Ngọc phả về Tiền Ngô Vương Thiên tử” ở phường Nam Hải, quận Hải An, thành phố Hải Phòng thì người nghĩ ra mưu kế đóng cọc ngầm trên sông để phá đội thuyền chiến của quân Nam Hán chính là Ngô Xương Ngập. Trong bản Ngọc phả có đoạn cho biết khi Ngô Quyền “nghe tin Hoằng Tháo sắp đến, bảo với các tướng rằng:
“Hoằng Tháo là đứa trẻ khờ dại, mang quân từ xa đến, quân lính mỏi mệt, lại nghe tin Công Tiễn đã chết, không có người làm nội ứng, chí khí đã bị mất rồi. Ta lấy sức còn khỏe để địch với sức đang yếu, tất sẽ phá được địch”.
Nói đến đây bỗng ở trong ban bộ có một người dâng lời, bảo rằng: “Quân địch có lợi thế ở chiến hạm, ta chưa chuẩn bị trước thì thắng thua chưa biết thế nào. Xin phụ thân cho trồng cọc ở hai bên cửa biển, khi nước thủy triều dâng lên, sai người lấy thuyền nhẹ giao chiến với quân địch, giả dạng thua chạy để mà đánh, tất quân của Hoằng Tháo tự như ngói mà tan vỡ!”. Vương cho là đúng, mới đưa mắt nhìn người nói, hóa ra là con trưởng Xương Ngập”.
Không chỉ hiến mưu hay kế lạ, trong trận Bạch Đằng lịch sử năm ấy, đích thân Ngô Xương Ngập còn trực tiếp chỉ huy một cánh quân xông pha đánh giặc.
Sau chiến thắng Bạch Đằng, mùa xuân năm Kỷ Hợi (939), Ngô Quyền lên ngôi, đóng đô ở Cổ Loa, “bắt đầu xưng Vương, lập Dương Thị làm Hoàng hậu, đặt trăm quan, chế định triều nghi phẩm phục” (Đại Việt sử ký toàn thư). Dã sử cho biết Ngô Quyền đã lập Ngô Xương Ngập làm Thái tử, để sau này kế thừa Vương vị.
Lánh nạn đất Trà Hương và kết duyên cùng người con gái họ Phạm
Năm Giáp Thìn (944), Ngô Vương Quyền lâm bệnh băng, thọ 48 tuổi. Theo Đại Việt Sử ký Toàn thư, “Tiền Ngô Vương bệnh nặng, di chúc giao cho Tam Kha giúp rập cho con. Khi Vương mất, Tam Kha cướp ngôi”.
Thần phả thờ tướng quân Đỗ Cảnh Thạc do Hội đồng dòng họ Đỗ xã Tây Mỗ, Từ Liêm, Hà Nội cung cấp, được cho là lấy từ nội dung văn bia dựng từ thời nhà Đinh, do Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan (1528 – 1613) giới thiệu, có đoạn chép: Năm Giáp Thìn (944), Ngô Vương lâm bệnh, cho gọi Thái tử Xương Ngập, Hoàng tử Xương Văn, Quốc cữu Dương Tam Kha, Thái y Nhi Thông, Tiền đạo tướng quân Phạm Bạch Hổ, Hữu tướng quân Dương Cát Lợi, Tả tướng quân Đỗ Cảnh Thạc đến bên giường bệnh, Ngô Vương nhủ rằng: “Trẫm bệnh tình đã đến lúc không thể chữa trị được nữa. Sống chết là luật vô thường tạo hóa không ai tránh khỏi … Nay Trẫm đem con côi phó thác các khanh, nhất là Dương Quốc cữu. Các khanh hãy đem tất cả nhiệt tình phù tá Trẫm bấy lâu nay ra giúp con Trẫm làm tròn sứ mạng Quân vương, để sơn hà xã tắc này muôn đời bền vững”…
Thế nhưng, Tam Kha một mặt gặp Dương Hậu (chị ruột mình) bàn việc đưa Thái tử Ngô Xương Ngập lên ngôi, một mặt lại mật sai Văn Súy cùng Hùng Cường ám sát Thái tử. Cung tần Thúy Nga biết mưu đó, do chịu ơn Ngô Vương nên mật báo cho Đỗ Thoan và Phạm Bạch Hổ. Hai người bảo vệ, giúp Thái tử chạy trốn.
Ngô Xương Ngập chạy về làng Trà Hương, Nam Sách Giang (nay thuộc làng Thuỵ Trà, xã Nam Trung, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương) nương nhờ sự che trở của Phạm Lệnh Công, vị hào trưởng trong vùng, đồng thời là một tướng tâm phúc của Ngô Quyền trước đây.
Ngay đêm đó, Quốc cữu Tam Kha cấm mọi người vào cung, rồi cùng bọn hoạn quan Văn Súy, ngự lâm quân Dương Hùng Cường, tham chính Ngụy Như Hòa họp kín, bàn chuyện cướp ngôi vua.
Ngay hôm sau Dương Tam Kha họp triều đình tự lên ngôi xưng là Bình Vương. Lúc đó quan Đại phu là Phạm Man mắng Tam Kha liền bị chém ngay, cả nhà bị tru di. Chỉ có con trai Phạm Man là Phạm Cự Lượng chạy trốn được, gặp Nguyễn Phục là con trai Nguyễn Cự, được Nguyễn Cự giúp chạy thoát.
Nhằm diệt trừ hậu họa, Dương Tam Kha sai hai tướng Dương Cát Lợi, Đỗ Cảnh Thạc đem quân đến nhà Lệnh Công đòi bắt Xương Ngập nhưng cả ba lần đều không thực hiện được. Phạm Lệnh Công đem Xương Ngập giấu trong động núi, Tam Kha biết, lại đòi cho quân đi bắt nhưng vẫn không bắt được.
Nơi mà Ngô Xương Ngập được đưa vào ẩn tránh chính là khu vực núi Côn, nơi bốn bề cây cối rập rạp, địa thế hiểm trở, hoang vu. Tương truyền một lần quân của Dương Tam Kha lùng tìm nhưng không được mới phóng hỏa hun khói mù mịt để Ngô Xương Ngập phải ra hàng, thế nhưng mưu kế này thất bại.
Từ chuyện đó mà núi Côn còn có tên là núi Hun (Hun Sơn). Núi Côn chính là Côn Sơn, địa danh nổi tiếng ở đất Chí Linh, Hải Dương ngày nay. Một số công trình tôn giáo, tín ngưỡng ở đây được gọi theo tên núi, như chùa Thiên Tư phúc tự được gọi là chùa Côn Sơn, chùa còn có tên khác là chùa Hun.
Trong thời gian lánh nạn ở Trà Hương, Ngô Xương Ngập được sự quan tâm, chăm sóc của Phạm Thị Uy Duyên, người con gái xinh đẹp, đức hạnh của Phạm Lệnh Công. dần dần, tình cảm của vị Thái tử sa cơ với người con gái xứ Đông đã nảy nở, rồi ngày càng sâu đậm. Biết con gái có tình cảm sâu đậm với Ngô Xương Ngập, Phạm Lệnh Công vui mừng vun vén cho tình cảm của họ, ông đã đồng ý gả con gái cho Thái tử và chọn ngày lành tháng tốt tổ chức hôn lễ.
Hai anh em cùng ở ngôi trị nước
Cuối năm Canh Tuất (950) Ngô Xương Văn, em trai Ngô Xương Ngập được sự ủng hộ của một số tướng lĩnh đã bất ngờ đem quân vây kinh đô Cổ Loa, lật đổ ngôi vị của Dương Tam Kha giành lại ngai vàng cho họ Ngô và xưng là Nam Tấn Vương. Tiếp đó, đầu năm Tân Hợi (951) Nam Tấn Vương cho đón anh trai về kinh cùng làm vua.
Ngô Xương Ngập lên ngôi xưng là Thiên Sách Vương, lập Phạm Thị Uy Duyên làm Thị tùng Phu nhân, bà đã sinh hạ cho Ngô Xương Ngập người con trai là Ngô Xương Xí. Năm 965, sau khi Nam Tấm Vương Ngô Xương Văn tử trận, Ngô xương Xí đã kế vị ngôi vua của chú nhưng tình hình trong nước lúc đó rối loạn, các thế lực nổi lên, Xương Xí thế yếu phải quay về chiếm giữ thành Bình Kiều, trở thành một trong 12 sứ quân.
Theo Phả hệ, Ngô Xương Ngập còn người con trưởng là Ngô Xương Tỷ, có lẽ do một người vợ trước sinh ra. Ngô Xương Tỷ sau xuất gia lấy đạo hiệu là Ngô Chân Lưu, trở thành một vị cao tăng danh tiếng thời Đinh – Tiền Lê và đầu triều Lý, được phong Khuông Việt Đại sư.
Ngô Xương Ngập từ khi làm vua, dần dần ham mê quyền lực, đua tranh với vua em nên dẫn đến bất hòa. Sách Đại Việt sử ký toàn thư viết: “Bấy giờ Thiên Sách Vương chuyên quyền làm uy, [Nam Tấn] Vương không được dự chính sự nữa. Hai vương do đó hiềm khích với nhau”.
Các nơi thờ tự:
Tại vị được 4 năm, năm 954 Thiên Sách Vương lâm bệnh mất tại Cổ Loa. Từ đây một mình Nam Tấn Vương lo việc triều chính. Sau khi Thiên Sách Vương mất, nhân dân một số địa phương lập đền, thờ cúng. Dưới đây là một số nơi thờ tự được biết đến:
– Đình An Trì (Hải Phòng) là một trong những nơi thờ Hậu Ngô Vương Ngô Xương Ngập. Đình An Trì thuộc phường Hùng Vương quận Hồng Bàng thành phố Hải Phòng. Trước đây làng An Trì có ngôi đình thờ Thành hoàng làng là Đức Vương Ngô Quyền và ngôi miếu thờ Hậu Ngô vương Ngô Xương Ngập, vị trí tại xã Quang Đàm, huyện An Hải (cũ), gọi là đền Quang Đàm. Do biến thiên của lịch sử, thiên tai sóng gió, đình và đền bị đổ nát, nhân dân hưng công xây cất lại ngôi đình, rước tượng Hậu Ngô Vương vào phối thờ tại đình làng. Tương truyền, vùng đất này trước đây là nơi Ngô Xương Ngập đóng quân, luyện tập binh sỹ chuẩn bị cho trận chiến Bạch Đằng. Cũng từ nơi đây, Ngô Xương Ngập đã chỉ huy hậu quân, hiệp đồng lập công lớn trong trong chiến thắng lịch sử năm 938. Sau chến thắng Bạch Đằng, ông đã được vua cha giao cho trọng trách ở lại chỉ huy toàn bộ công cuộc phòng thủ và xây dựng vùng đất trọng yếu này. Chính vì vậy sau khi ông mất nhân dân địa phương đã lập miếu thờ
– Cụm di tích Tam Canh (Vĩnh Phúc). Cụm di tích bao gồm 3 ngôi đình của 3 làng: Hương Canh, Ngọc Canh và Tiên Hường thuộc thị trấn Hương Canh huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc. Đình mỗi làng đều thờ 6 vị Thành hoàng là: Thái tử Ngô Xương Ngập, Hoàng tử Ngô Xương Văn, Hoàng hậu Dương Thị Như Ngọc, Hoàng phi Dương Phương Lan, Tướng quân Đỗ Cảnh Thạc và Hoàng hậu Phạm Thị Uy Duyên.
Trong cụm di tích trên còn có Miếu Thượng thờ Thái tử Ngô Xương Ngập và Hoàng tử Ngô Xương Văn. Miếu Thượng nằm bên bờ sông Cánh (đoạn sông Cà Lồ chảy qua thị trấn Hương Canh). Theo truyền tụng nhân dân trong vùng thì Ngô Xương Văn sau khi lật đỏ Dương Tan Kha giành lại ngôi báu có đi tìm lại người anh Ngô Xương Ngập về cùng trông coi triều chính. Trên khúc sông này hai anh em đã gặp lại nhau sau bao ngày xa cách. Nơi đây sau nhân dân lập đền thờ 2 Ngài.
– Đền Kê Lạc (còn gọi là Đền Vương) ở làng Nghĩa Chế xã Dị Chế (nay thuộc thị trấn Vương) huyện Tiên Lữ, Hưng Yên thờ Đức Vương Ngô Quyền, Hoàng Hậu và Hậu Ngô Vương Ngô Xương Ngập, Ngô Xương Văn. Tài liệu ở đền này còn cho rằng, khu vực Đền chính là nơi an táng thi hài Đức Vương, Hoàng hậu và nhị vị Hậu Ngô Vương.
Ngô Xuân
BIỂN VUA BAN “TRUNG NGHĨA DÂN”
Nhận định: Biển Trung Nghĩa Dân ban năm 1741 nhưng biển hiện tại ơ Đình Tiên Hường có lẽ được làm lại thời Tự Đức

Ngô Xương Văn: Vị vua khiêm cung nhân nghĩa
Bài đăng trên ngotoc.vn
Ngô Xương Văn thuộc thế hệ thứ 7 họ Ngô Việt Nam, là con thứ hai của Ngô Vương Quyền, mẹ là Dương Hoàng hậu (Dương Thị Như Ngọc), được sử gọi là Hậu Ngô vương, một vị vua khiêm cung, nhân nghĩa.

Theo chính sử, năm 944 Ngô Quyền mất, uỷ thác con trưởng Ngô Xương Ngập cho Dương Tam Kha – em trai Dương Hậu. Tuy nhiên, sau khi Ngô Quyền mất, năm 945 Dương Tam Kha cướp ngôi, tự lập mình làm vua, xưng là Dương Bình Vương. Ngô Xương Ngập được các trung thần mật giúp, chạy về Nam Sách Giang ẩn náu tại nhà Phạm Lệnh Công, một hào trưởng ở làng Trà Hương (nay thuộc xã Phạm Mệnh, huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương). Dương Tam Kha ba lần sai quân đi bắt Ngô Xương Ngập nhưng ông được Phạm Lệnh Công hết sức che chở nên không bắt được. Ở đó Ngô Xương Ngập lấy bà Phạm Thị Uy Duyên, sinh con là Ngô Xương Xí.
Ngô Xương Văn lúc đó còn nhỏ, Dương Tam Kha nuôi trong cung làm con nuôi.
Từ khi Dương Tam Kha tiếm ngôi nhà Ngô, nhiều nơi không chịu thuần phục, các thủ lĩnh nổi lên cát cứ mỗi người một vùng. Năm Canh Tuất (950), Tam Kha sai Xương Văn cùng hai tướng Dương Cát Lợi và Đỗ Cảnh Thạc đem quân đi dẹp loạn hai thôn Đường, Nguyễn ở Thái Bình (nay thuộc Sơn Tây). Khi quân đến Từ Liêm, Ngô Xương Văn nói với hai tướng rằng:
“Đức lớn của Tiên Vương ta đã thấm vào tận lòng dân, cho nên, chính lệnh ban ra, không ai là không thuận nghe theo. Nay không may Tiên Vương đã lìa bỏ quần thần, Bình Vương (chỉ Dương Tam Kha) làm việc bất nghĩa, cướp ngôi của anh ta, tội thật không có gì lớn bằng. Giờ đây, Bình Vương lại sai chúng ta đi đánh hai làng vô tội, nếu may mà thắng được thì chẳng nói làm gì, còn như họ không chịu hàng phục thì ta biết làm sao được?”
Hai tướng cùng nói:
“Chúng tôi xin theo lệnh của ông”.
Ngô Xương Văn lại nói:
“Ta muốn đem quân quay lại đánh úp Bình Vương để khôi phục cơ nghiệp của Tiên Vương ta, như thế có nên chăng?”
Hai tướng cùng cho là hay, bèn quay về đánh úp Dương Tam Kha. Mọi người muốn giết Dương Tam Kha đi, nhưng Ngô Xương Văn nói:
“Bình Vương đối với ta có ơn (chỉ việc Dương Tam Kha đã nhận Ngô Xương Văn làm con nuôi), sao lại nỡ giết?”
Nói rồi, bèn giáng Dương Tam Kha làm Chương Dương Công, ban cho đất làm thực ấp (nay là Bến Chương Dương thuộc Thường Tín, Hà Nội).
Năm 950, Ngô Xương Văn xưng là Nam Tấn Vương rồi cho người đi đón anh là Ngô Xương Ngập về cùng trông coi việc nước. Ngô Xương Ngập cũng lên làm vua, xưng Thiên Sách Vương. Khi đó trong triều cùng tồn tại hai vua, sử gọi là Hậu Ngô Vương.
Theo Đại Việt sử ký toàn thư, thì năm 951 Đinh Bộ Lĩnh cát cứ ở Hoa Lư không chịu thần phục nhà Ngô lúc đó do hai anh em Ngô Xương Ngập và Ngô Xương Văn cùng trị vì. Bộ Lĩnh sai con trai trưởng là Đinh Liễn vào Cổ Loa làm con tin. Đinh Liễn đến, hai vua trách tội Bộ Lĩnh không đến chầu, rồi bắt giữ Liễn, đem theo đi đánh Hoa Lư. Hơn một tháng trời, quân Triều đình không đánh nổi, hai Vua bèn treo Liễn lên ngọn sào, sai người bảo Bộ Lĩnh, nếu không chịu hàng thì giết Liễn. Bộ Lĩnh tức giận nói:
“Đại trượng phu chỉ mong lập được công danh, há lại bắt chước thói đàn bà xót con hay sao?”
Liền sai hơn mười tay nỏ nhắm Liễn mà bắn. Hai vua Ngô kinh sợ nói:
“Ta treo con nó lên là muốn để nó đoái tiếc con mà ra hàng cho chóng. Nó tàn nhẫn như thế, còn treo con nó làm gì?”
Nói rồi không giết Liễn mà đem quân về.
Năm 954 Thiên Sách vương Ngô Xương Ngập lâm bệnh mất, Nam Tấn Vương một mình trông coi việc nước.
Bấy giờ trong nước nhiều nơi nổi lên làm loạn, không thần phục triều đình, Nam Tấn vương phải đích thân mang quân đi đánh dẹp. Năm Ất Sửu (965) Nam Tấn Vương đem quân đi đánh hai thôn ở Thái Bình. Quân đến nơi cắm thuyền, lên bộ đánh nhau. Nam Tấn vương trúng tên nỏ tẩm thuốc độc của quân mai phục bị tử thương. Ông trị vì được 15 năm (950 – 965).
Theo Sử ký của Ngô Thì Sĩ, bấy giờ có người quận Thao Giang là Chu Thái quật cường không thần phục. Nam Tấn vương thân đi đánh, chém được Chu Thái. Do trận thắng ấy, Nam Tấn vương sinh kiêu, chủ quan khinh địch, chính vậy nên mới mắc nạn trong chuyến đi đánh hai thôn này.
Sau khi Nam Tấn Vương mất, con của Thiên Sách Vương là Ngô Xương Xí lên ngôi, nhưng thế lực suy yếu phải rút về giữ đất Bình Kiều. Từ 966 trong nước hình thành thập nhị sứ quân, sử gọi là loạn 12 sứ quân. Cho tới năm Mậu Thìn 968, đạo quân của Đinh Bộ Lĩnh sau khi đánh dẹp và thu phục được các đạo quân khác, thống nhất đất nước, mở ra nhà Đinh. Nhà Ngô đến đây kết thúc.
Luận về Ngô Xương Văn, Sử gia Ngô Thì Sĩ trong Việt sử tiêu án có lời bàn rằng:
“Hậu Ngô Vương vì tư chất còn non trẻ, được nuôi dưỡng trong thâm cung, sớm tối ở chung, mà bọn gian thần không nghi kỵ, đi đánh giữa đường lại quay về lấy nước mà các tướng không dám trái lời. Tên đại gian (chỉ Dương Tam Kha) 6 năm cướp ngôi chuyên quyền, một mai bị truất bỏ mà im lặng tăm hơi, dễ như đổi quân cờ. Ông quả là thông minh và khéo che đậy. Oai vũ đủ để khuất phục được người, tính trầm lặng quả quyết sâu sắc kín đáo, tư chất cao siêu, vốn không phải là người tầm thường có thể theo kịp. Ông trở về kinh đô, không để mất cơ nghiệp cũ, phía bắc thì khước từ sắc mệnh của triều Nguỵ, phía nam thì dẹp loạn binh đao, ở ngôi giữ nước qua 15 năm, đáng là một vị vua hiền giữ nghiệp cũ. Sinh con như thế, Ngô Quyền có thể được coi là người sống mãi không mất”.
Theo Lịch sử họ Ngô tổng hợp của tác giả Ngô Đức Thắng thì Ngô Xương Văn có 2 bà vợ. Bà cả là Dương Vân Nga, con gái Dương Tam Kha, sinh ra Ngô Nhật Khánh, sau này bà được Đinh Tiên Hoàng lập làm Hoàng hậu, sinh ra Đinh Toàn. Bà thứ hai là Lý Thị Ngọc Dư, sinh Ngô Nhật Chung. Ngô Nhật Khánh thời kỳ 12 sứ quân tự xưng là An Vương chiếm giữ Đường Lâm, sau bị Đinh Bộ Lĩnh bức hàng; Ngô Nhật Chung ở Đổ Động trở thành đại điền chủ, sau này cầm đầu cuộc nổi dậy chống triều đình nhà Tiền Lê, bị Lê Hoàn dẫn quân từ Hoa Lư ra đàn áp tan rã.
Luận về vợ con Nam Tấm Vương, hiện có nhiều nhận định khác nhau:
Có ý kiến cho rằng, nếu theo luận thuyết nêu ra trong Lịch sử Họ Ngô tổng hợp, thì bà Dương Vân Nga từng là vợ của 3 người: Ngô Xương Văn, Đinh Bộ Lĩnh và Lê Hoàn. Như vậy, Dương Vân Nga là Hoàng hậu 3 triều: Ngô, Đinh, Tiền Lê chứ không phải chỉ 2 triều như chính sử viết. Luận thuyết này thấy thiếu cơ sở vững chắc, có nhiều điểm mâu thuẫn. Chính sử không thấy nhắc đến, các phả cũ họ Ngô cũng không thấy bản nào đề cập đến tình tiết này.
Cũng có người cho rằng, bà Dương Thị vợ Ngô Xương Văn sinh ra Ngô Nhật Khánh, sau này được Đinh Tiên Hoàng lập làm Hoàng hậu, là 1 trong 5 hoàng hậu nhà Đinh không phải con gái Dương Tam Kha, bởi theo phả họ Dương thì Dương Thị là con người anh của Tam Kha tên là Nhị Kha, Nhị Kha mất sớm, Dương Thị về ở với chú, chứ bà không phải bà là con Dương Tam Kha.
Theo bản dịch Thần phả thờ tướng quân Đỗ Cảnh Thạc do Hội đồng dòng họ Đỗ xã Tây Mỗ, Từ Liêm, Hà Nội cung cấp, được cho là nội dung văn bia dựng từ thời nhà Đinh, do Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan (1528 – 1613) giới thiệu, thì Ngô Nhật Khánh không phải là con Nam Tấn Vương Ngô Xương Văn. Trong Thần phả, đoạn Ngô Quyền trước lúc lâm chung, ủy thác con trưởng Ngô Xương Ngập cho Dương Tam Kha và Triều đình có nội dung:
“Năm Giáp Thìn 944, Ngô Vương lâm bệnh, cho gọi Thái tử Xương Ngập, hoàng tử Xương Văn, quốc cữu Dương Tam Kha, thái y Nhi Thông, Tiền đạo tướng quân Phạm Bạch Hổ, Hữu tướng quân Dương Cát Lợi, Tả tướng quân Đỗ Cảnh Thạc, cận vệ Ngô Nhật Khánh… đến bên giường bệnh truyền nhủ…”
Theo trên, năm 944 Ngô Nhật Khánh đã là cận vệ của nhà vua, trong khi đó Hoàng tử Ngô Xương Văn mới chi là một cậu bé, sau này được Dương Tam Kha nuôi trong cung làm con nuôi thì sao có thể là cha của Nhật Khánh được?
Sách Truyền thuyết Hoa Lư thì lại viết rằng: bà mẹ Ngô Nhật Khánh họ Hoàng, chồng là Ngô Công, là tướng của Nam Tấn Vương Ngô Xương Văn (chứ không phải chính Ngô Xương Văn là chồng), ông bị mất sớm. Người dân gọi bà là Ngô Phu nhân, sau được Đinh Tiên Hoàng lập làm Hoàng hậu. Sau khi Đinh Tiên Hoàng mất, với những diễn biến xấu dồn dập của chồng và các con tràn đến, bà ra vùng ven đô kinh thành Hoa Lư lập chùa tu hành. Nhân dân gọi chùa này là chùa Bà Ngô. Tương truyền, bà Ngô phu nhân là người hiền hậu, rất thương dân và sống thọ đến cả 100 tuổi. Vì vậy, Chùa Bà Ngô trở thành một trong những ngôi chùa cầu thọ nổi tiếng ở Ninh Bình, và cho đến nay, hàng năm mọi người vẫn đến cầu phúc, cầu sự bình an và sức khỏe cho mình cùng người thân. Đây là một ngôi chùa cổ, nằm ở tả ngạn sông Hoàng Long, thuộc hệ thống di tích lịch sử cố đô Hoa Lư (Ninh Bình).
Trên đây là những vấn đề tồn nghi, đòi hỏi các nhà sử học và họ Ngô Việt Nam tiếp tục bỏ nhiều công sức tìm tòi, nghiên cứu thêm.
Ngô Văn Xuân
LỊCH SỬ XÂY DỰNG BA ĐÌNH Ở HƯƠNG CANH
LỊCH SỬ XÂY DỰNG BA ĐÌNH Ở HƯƠNG CANH
Cụm di tích đình Hương Canh gồm các đình Hương Canh, Ngọc Canh, Tiên Hường nay thuộc thị trấn Hương Canh huyện Bình Xuyên tỉnh Vĩnh Phúc là cụm di tích tiêu biểu cho đình làng miền Bắc nói chung và tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng.
Hương Canh xưa thuộc huyện Yên Lãng trấn Sơn Tây xứ Đoài nơi có nhiều đình làng tiêu biểu của cả nước từng được ngợi ca qua câu ca “Cầu Nam, Chùa Bắc, Đình Đoài” Chính vì thế cụm đình Hương Canh cũng mang nhiều nét đặc trưng tiểu biểu của đình làng xứ Đoài với kết cấu đồ sộ và nghệ thuật chạm khắc độc đáo
Căn cứ vào kết cấu và nghệ thuật chạm khắc của ba đình các nhà nghiên cứu đều cho rằng cụm đình làng Hương Canh được xây dựng vào thời Hậu Lê trong khoảng cuối thế kỷ 17- đến thế kỷ 18.
Theo kết quả điền dã khi xây dựng hồ sơ di tích, tương truyền thứ tự khởi dựng các đình lần lượt là Hương Canh, Ngọc Canh,Tiên Canh ( tức đình Tiên Hường) với kết cấu gần giống nhau theo hình chữ Vương với ba tòa Tiền tế- Đại Bái- Hậu cung được nối liền với nhau bởi một ống muống.
Cả ba đình cùng thờ sáu vị thần mà địa phương gọi là Lục vị Thành Hoàng là những nhân thần triều nhà Ngô trong lịch sử nước nhà trong đó có: Con cả của Ngô Quyền là Thiên Sách Vương Ngô Xương Ngập được phong là Thiên Sách Hoàng Đế, con thứ của Ngô Quyền là Nam Tấn Vương- Ngô Xương Văn được phong là Quốc Vương Thiên Tử và Đỗ Cảnh Thạc là tướng của Ngô Quyền, cùng 3 nhân vật khác được phối thờ là Linh Quang Thái Hậu, Khả Lã Nương Nương và Thị Tùng Phu Nhân.
ĐÌNH HƯƠNG CANH:
Về niên đại đình Hương Canh, hiện nay các tư liệu ghi lại thời gian khởi tạo chính xác các đình đều không còn nên chỉ có thể căn cứ vào nghệ thuật chạm khắc cùng các niên đại trùng tu qua các thời kỳ được khắc ghi trên các câu đầu, thượng lương của di tích
Theo những nghiên cứu gần đây các nhà nghiên cứu đã cho rằng có niên đại khoảng cuối thể kỷ 17, trong khoảng những năm niên hiệu Chính Hòa đời Lê (1680-1705). Nhận định này phù hợp với kết quả điền dã tại địa phương tương truyền sau khi hoàn thành đình Hương Canh thì tiến hành xây Chùa Kính Phúc. Tại chùa Kính Phúc có được ghi niên đại chính xác năm khởi dựng tại cây hương đá với niên hiệu Vĩnh Thịnh thứ 2 đời Lê Dụ Tông là năm 1706.
Tại đình Đình Hương Canh từ khi khởi dựng đến nay, được trải qua một số lần trùng tu, tại gian đại bái còn ghi lại niên đại năm Đồng Khánh thứ 3 (1888)
Lần cuối cùng đình được trùng tu trong thời kỳ phong kiến hoàn thành vào năm 1925. Tại lần trùng tu này đình được lên táng cao 1,2 m đồng thời xây lại các cột trụ biểu của đình.
Ngày 18-10-1964, đình Hương Canh được Bộ Văn Hóa xếp hạng là Di tích lịch sử văn hóa quốc gia, riêng phần chạm khắc được liệt vào loại A.
Từ năm 2007 đến 2010 đình được tu bổ theo chương trình mục tiêu Quốc gia chống xuống cấp di tích, với nguyên tắc bảo tồn tối đa các giá trị nguyên gốc kiến trúc di tích và dáng vẻ của di tích, sử dụng vật liệu gỗ truyền thống, tôn nền, tăng khả năng chống chịu mối mọt và ảnh hưởng của khí hậu đối với các tác phẩm điêu khắc trang trí có niên đại cuối thời Lê, đầu Nguyễn của đình. Đây cũng là lần trùng tu quy mô nhất trong lịch sử xây dựng đình Hương Canh.
Nghệ thuật chạm khắc của đình Hương Canh được xếp hạng là một những chạm khắc tiêu biểu và đỉnh cao của đình làng Bắc Bộ. Với quy một hoành tráng và nghệ thuật chạm khắc điêu luyện các chủ đề về hội làng và đời sống sinh hoạt của nhân dân
Với 19 bức chạm tạo thành 6 mảng trang trí lớn khiến cho nội thất đình Hương Canh thêm uy nghi, sinh động.
Điêu khắc hoành tráng đình Hương Canh là một nghệ thuật điêu luyện mang tính chất bác học rõ rệt. Tất cả mọi bức chạm đều có ý đồ rõ rệt, được phân chia, sắp xếp theo một chủ định, nhưng đều nằm trong một mối tổng hòa chung. Tiêu biểu là các bức chạm: Đấu võ, đấu vật, bơi chải, bầu rượu túi thơ, đi săn về, người cưỡi rồng, táng mộ vào hàm rồng, bát tiên…Đây là hình ảnh thu nhỏ của ngày hội làng, nó phản ánh được phần nào sinh hoạt của xã hội thời bấy giờ tạo nên sự độc đáo của đình Hương Canh.
ĐÌNH NGỌC CANH:
Cách đình Hương Canh chừng 200m, đình Ngọc Canh có kiểu thức kiến trúc tương tự đình Hương Canh,
Tại đình Ngọc Canh, niên đại sớm nhất còn ghi trên di tích tại gian tiền tế với niên đại năm Kỷ Sửu 1769 thời vua Lê Cảnh Hưng.
Gian đại bái của đình còn ghi chi tiết các năm khởi dựng vào năm Gia Long thứ 12 (1813) và đến năm Minh Mạng thứ nhất (1820) hoàn thành sơn thếp vàng son. Ngoài ra còn có ghi năm trùng tu toàn hậu cung năm 1903.
Từ năm 2010 đến 2013 đình Ngọc Canh đình được trùng tu bằng nguồn ngân sách quốc gia, giữ lại kết cấu nguyên bản của ngôi đình cổ.
Về nghệ thuật chạm khắc, đình Ngọc Canh cũng có những bức chạm giống đình Hương Canh như: “đấu vật”, “bơi chải”, “đi săn về” hay những hình rồng phượng, con giống. Tuy nhiên nội dung và nghệ thuật chạm trổ ở đây có những điểm khác với đình Hương Canh. Nếu như ở đình Hương Canh tả nhiều về ngày hội làng, những trò chơi đông người tạo nên không khí vui nhộn thì ở đình Ngọc Canh lại thiên về tả cảnh lao động, những thú vui cuộc sống. Nếu chạm trổ ở đình Hương Canh đẹp trong không khí nhộn nhịp vui tươi thì chạm trổ ở đình Ngọc Canh đẹp trong không gian trầm lắng, suy tư liên tưởng trước thực tế cuộc sống của nhân dân ta nửa cuối thế kỷ 17, như các bức chạm: “Dựng cột buồm”, “Uống rượu”, “Chơi cờ”, “Đến hát nhà quan”. Với lối bố cục chặt chẽ, hài hoà, đường nét phóng khoáng tự do, chú ý khắc hoạ từng chi tiết thể hiện rõ tình cảm, cá tính của từng nhân vật trong bức chạm để rồi có một tác phẩm hoàn hảo, mang nội dung tư tưởng sâu sắc, thể hiện cao độ đề tài định trước. Đó là những thành công nổi bật trong chạm gỗ ở đình Ngọc Canh.
ĐÌNH TIÊN HƯỜNG:
Đình Tiên Hường có tên cũ theo tên làng là đình Tiên Canh, là ngôi đình có diện tích mặt bằng lớn nhất trong cụm đình Hương Canh.
Tại gian hậu cung của đình Tiên Hường có ghi niên đại khởi dựng dựng năm Cảnh Hưng thứ 37 (1776) đây là niên đại xây dựng sớm nhất còn ghi trong đình Tiên Hường.
Tại gian Đại bái của đình Tiên Hường có ghi niên đại tiếp theo của đình tòa đại bái được năm Kỷ Mùi (1799) dưới triều Tây Sơn.
Lần trùng tu gần đây còn ghi lại niên đại vào năm Bảo Đại thứ 13 (1939)
Kết cấu, kiểu thức kiến trúc đình Tiên Hường giống đình Hương Canh và Ngọc Canh, nhưng khác trong trang trí đình Tiên Hường với đình Hương Canh và Ngọc Canh là đề tài về con người ít hơn mà chủ yếu là “tứ linh” (long – ly – quy – phượng), trong đó hình rồng xuất hiện hầu hết trong trang trí ở đây. Tứ linh ở các tư thế khác nhau được kết hợp nhuần nhuyễn hài hòa linh hoạt trong các mảng chạm của đình
Năm 2014 đình được trùng tu bằng nguồn ngân sách quốc gia, giữ gìn nguyên bản kết cấu và dáng vẻ trước kia.
Với nghệ thuật kiến trúc đồ sộ độc đáo cùng những chạm khắc có tính tiêu biểu của đình làng Bắc Bộ, cụm di tích đình Hương Canh đã được công nhận là di tích quốc gia đặc biệt thể hiện sự đề cao và quan tâm với những di sản và di tích đình làng Việt Nam

Admin
NHỚ VỀ MIẾU THƯỢNG
NHỚ VỀ MIẾU THƯỢNG
Tác giả: Trần Ngọc Bích
Nhớ về Miếu Thượng quê tôi.
Bên bờ sông Cánh một thời vàng son
Để cho nắng gió mỏi mòn ngóng trông.
Vui buồn mấy vị lão nông
Chiều chiều ngắm cảnh bên sông chạnh lòng
Đâu còn cổ kính rêu phong
Đâu còn bến nước bên dòng sông quê.
Chiều thu nhuộm đỏ lá đề
Ai sang Thanh Lãng ai về Tân Phong
Ai qua đồng Máy, đồng Mong
Nhìn về Miếu Thượng thấy lòng vấn vương
Nhớ người gối đất nằm sương
Miếu là điểm hẹn trên đường đánh Tây.(*)
Mùa hè nóng nực qua đây
Cây xanh gọi gió về vây quang mình
Còn trong thế giới tâm linh
Miếu cho thập loại chúng sinh cậy nhờ
Xuân về chim hót líu lo
Nhớ bao kỷ niệm tuổi thơ mục đồng
Thăng trầm mưa nắng bão giông
Miếu về nhà Miếu dòng sông thẫn thờ….
Nỗi niềm hoài cổ ngẩn ngơ
Cũng xin ghi lại bằng thơ gọi là….
( 1999)
SƠ LƯỢC LỊCH SỬ MIẾU THƯỢNG
Miếu Thượng được nhắc tới trong bài thơ là một ngôi miếu cổ được xây trên gò đất thiêng ven sông Cánh bên ngoài làng Hương Canh, tương truyền là nơi ngự giá của nhà vua khi qua làng.
Miếu thờ hai vua thời kỳ Hậu Ngô.
Trước cách mạng tháng 8/1945, Miếu Thượng có người trông coi hương khói, miếu địa điểm hoạt động của Việt Minh và từng là nơi đã diễn ra những cuộc họp quan trọng của cán bộ Việt Minh địa phương.
Năm 1956, trong phong trào bài trừ mê tín di đoan, miếu Thượng đã bị phá dỡ hoàn toàn và chuyển các xà gỗ về làm trạm xá xã. Thời gian sau đó khu đất miếu được dùng làm khu chăn nuôi của HTX.
Năm 2008, với sự mong mỏi qua nhiều năm của nhân dân địa phương Miếu Thượng đã được khôi phục và có kiến trúc như hiện nay.

Ảnh: Miếu Thượng năm 2020 của Tạ Tiến
CÂY BÀNG ĐÌNH HƯƠNG
CÂY BÀNG ĐÌNH HƯƠNG
Với rất nhiều người Hương Canh và khu vực trong làng thì địa danh “Gốc Bàng Đình Hương” là địa điểm thân thương, nơi đã ghi dấu nhiều kỷ niệm của tuổi học sinh với những ai đã từng gắn bó với mảnh đất này.
Tuy nhiên không phải ai cũng biết cây bàng ấy có tự bao giờ ? Cây bàng già đã bao nhiêu tuổi? Ai là người trồng những cây bàng ấy đã để bóng mát cho nhiều thế hệ sau?
Thực ra Cây Bàng đình Hương tuy là cây lâu năm nhưng không phải là cây cổ thụ như nhiều người vẫn tưởng. Những cây bàng ấy được trồng vào khoảng năm 60 thế kỷ trước.
Người trồng bàng là cụ Trần Sa ở xóm Mướp – Ngọc Canh, hiện cụ đã ngoài 90 tuổi nhưng còn mạnh khỏe.
Tuy trồng chưa lâu nhưng được chăm sóc tốt, đến những năm 80 tán bàng đã vươn rộng tỏa bóng mát che cho cái nắng chói chang của mùa hè vì thế có nhiều hàng quán dưới tán bàng ấy. Khi các cây trong làng đã không sống được bởi khói lò những năm 90 thì những cây bàng ấy vẫn xanh tươi.
Trước kia cây bàng có hai nhánh tỏa bóng mát nhưng sau một nhánh bị sâu hỏng mà phải cưa bỏ.
Xin cảm tạ người trồng cây để lại bóng cho đời. Để cho các thế hệ học sinh Hương Canh có được một địa danh còn nhớ mãi mà không có tên trên bản đồ : CÂY BÀNG ĐÌNH HƯƠNG.
Bổ sung: Theo con gái của cụ Trần Sa thì cây bàng Đình Hương được cụ trồng năm 1956. Xin bổ sung và đính chính lại cho chính xác. Xin cảm ơn cô.
Bài thơ: CÂY BÀNG ĐÌNH HƯƠNG
Tác giả: Trần Ngọc Bích
Cây bàng trước cổng đình Hương
Tháng ngày chào hỏi người thương đi về
Màu xanh mát cả vùng quê
Xoè cành lá, chắn nắng hè chói chang
Thu đông lá đỏ cành bàng
Như lò than ấm xua tan lạnh lùng
Xuân về lễ hội tưng bừng
Bàng đung đưa lá vui cùng xóm thôn
Đình Hương cổ kính đẹp hơn
Khi bàng in bóng chiều hôm sân đình
Búp xanh trong nắng lung linh
Như nghìn bút vẽ dáng hình quê hương
Khói lò ô nhiễm môi trường
Chuối, hồng, na, mít…tổn thương héo dần
Bàng vẫn nhẫn nại chuyên cần
Cho đời bóng mát, góp phần xanh tươi
Bao năm đi ngược về xuôi
Không quên tiếng “ĐOẠN”của người Hương Canh (*)
Không quên thịt mỡ dưa hành
Và không quên được bức tranh CÂY BÀNG.(1999)
(*) Người Hương Canh nói “đoạn” có nghĩa là: Lát nữa, Chốc nữa.

Ảnh: Cây Bàng Đình Hương mùa đông năm 2004
Ảnh: Trương Quý ( Hà Nội)
ĐÌNH HƯƠNG CANH NĂM 1937

CHÙA KÍNH PHÚC NĂM 1926
TƯỢNG THÁNH HIỀN CHÙA CẢ (CHÙA KÍNH PHÚC) NĂM 1937
Tượng Đức Thánh Hiền cùng Tiêu Diện Đại Sĩ – Vi Đà Hộ Pháp
Tượng Đức Thành Hiền tạc hình một vị Tăng đầu đội mũ hoa Sen, tay phải bắt ấn Cát tường hoặc ấn Vô úy, tay trái để ngửa trong lòng, ngồi thả chân chứ không xếp bằng như tượng Phật, Bồ Tát. Hai bên tượng Thánh Hiền có hai thị giả.
Một bên có hình dáng dữ tợn, mặt đen sì hoặc xanh lè gọi là TIÊU DIỆN ĐẠI SĨ- Một bên có tướng diện hiền hoà là VI ĐÀ HỘ PHÁP
Lời kể: Chùa Cả tức Kính Phúc Tự khởi dựng năm 1706 và được trùng tu lớn năm 1767 là chùa to nhất trong 4 chùa còn lại ở Hương Canh đầu thế kỷ 20
Ba chùa còn lại là: Chùa Suốc ở cây đề Thắng Lợi, Chùa Ma Hông ở Lò Cang, Chùa Bèo ở Đồng Bèo sau chuyển vào trong làng năm 1932 đổi tên là Chùa Ngọc Sơn.
Tượng chùa Kính Phúc phần nhiều được làm bằng sét cốt tre. Với công nghệ làm đất vô cùng kỹ cộng với nước sơn ta tốt. Hàng trăm năm tượng vẫn không bị xuống cấp. Tượng Phật do chính những nghệ nhân của làng tự làm. Tuy mộc mạc nhưng rất có hồn cốt đặc trưng của tượng Phật Bắc Bộ. Nghệ nhân cuối cùng làm tượng thổ là cụ Nguyễn Đạm ở làng Tiên Hường và sau này ông Nguyễn Hữu Tuệ đã học được cách làm tượng đất để bổ sung các tượng trong chùa
Năm 1949 Pháp chiếm đóng Hương Canh nên khu vực Đình Hương Canh và chùa đều có quân ở tại đình, chùa. Do không có người quản lý nên nhiều tượng Phật bị hỏng. Nhưng sau đó khi tản cư về làng nhân dân đã mời các cụ nghệ nhân sửa chữa lại một số.
Năm 2012 nhân dịp hoàn thành trùng tu chùa Kính Phúc, một số gia đình đã cung tiến tượng Phật gỗ để thay thế tượng thổ xưa kia.
Do có sự yêu cầu của một người trong làng nên số tượng Phật thổ vẫn còn được giữ lại nhưng không còn vị trí để thờ cúng. Mong rằng những tượng thổ ấy sẽ tiếp tục được giữ gìn cho di sản Hương Canh.
Ghi chép thêm về hai tượng hai bên Tượng Thánh Hiền
Tượng Tiêu Diện đại sĩ tượng trưng cho Bồ tát hóa thân xuống địa ngục để cứu độ chúng sinh nơi đó, nhưng để phù hợp với cõi địa ngục nên mặt mũi cũng hung dữ, dù có tâm Phật. Do đi khắp các cõi ngục, nên lửa địa ngục thiêu cháy mặt Bồ Tát, mặt trở thành đen hoặc xanh. Về Hộ Pháp Vi Đà, kể từ khi Phật Thích Ca Mâu Ni nhập diệt, chúng Vương chư và các Thiên thần đã họp bàn về việc hỏa thiêu lấy Xá lợi Ngài thờ trong tháp. Vì lúc trước Ngài Vi Đà Tôn Thiên đã được Đức Phật cho một chiếc răng và Ngài đã mang chiếc răng đó về để dựng tháp thờ, nên đã chọn tháp Đế Thích Thiên xây làm chỗ thiêu Đức Phật lấy Xá lợi. Trong khi đang hỏa thiêu, thừa lúc Đế Thích Thiên mất tập trung đã bị con quỷ La Sát trộm lấy răng Phật. Trông thấy vậy, Ngài Vi Đà Tôn Thiên liền đuổi theo, đã bắt được quỷ La Sát tống nó vào ngục. Sau đó răng Phật được đưa về tháp nên Ngài đã được Chư Thiên hết mực khen ngợi.
Ảnh kho ảnh Viện Hàn Lâm KHXH

HÌNH ẢNH HƯƠNG CANH NĂM 1950
Lính Lê Dương Pháp tập trung trước cổng chùa Kính Phúc năm 1950.
Ngày đó Hương Canh là vùng tạm chiếm dưới quyền kiểm soát của Pháp.
Sưu tầm: Trần Ngọc Đông
LỊCH SỬ BỐT ĐEN Ở HƯƠNG CANH.
LỊCH SỬ BỐT ĐEN Ở HƯƠNG CANH.
Nhân việc công ty xây dựng thi công tuyến đường ven sông Cánh trong quá trình thi công trong đã gặp phải chiếc lô cốt đã có từ lâu.
Ad liền mang thắc mắc thử hỏi xem ai biết lịch sử quê nhà thì cho biết của cái Bốt này được xây dựng thời gian nào, lý do xây dựng là gì mà có ở nơi đây?
Đáng tiếc là qua nhiều câu trả lời, tuy rất nhiều người biết đó gọi là Bốt Đen của Pháp. Nhiều người còn nhớ đó là chính là hầm rắn độc trong truyền thuyết của lứa học sinh cấp 1 thời những năm chín mươi, đó lại là nơi nuôi gà ở vườn bạch đàn, nơi chụp điện X-Quang… nhưng không ai biết là xây dựng từ bao giờ cả. Một điều hơi buồn cho những người trẻ tuổi ở quê hương.
1. TÊN GỌI VÀ VỊ TRÍ CỦA BỐT ĐEN
Bốt Đen là tên gọi dân dã của người Hương Canh một lô cốt của Pháp ở vị trí đầu cầu Treo, cũng là để phân biệt với Bốt Đỏ ở xóm Vam Dộc.Hai cái tên này dựa trên màu sơn của chúng. Bốt Đen thì được sơn màu Đen, Bốt Đỏ thì sơn màu đỏ. (Bốt Đỏ ít người biết ở vì ở trong làng).
Bốt Đen án ngữ tại đầu Cầu Treo cũ (chiếc cầu cũ đã phá nay còn hai trụ cầu). nay thuộc khu đất chợ tạm, bãi kéo song thị trấn Hương Canh, ngay gần kề lối vào trường Tiểu học Hương Canh A
2. THỜI GIAN XÂY DỰNG VÀ CHỨC NĂNG CỦA BỐT ĐEN
Theo sách lịch sử Đảng bộ xã Tam Canh. Tóm tắt diễn biến lịch sử của địa phương như sau:
Ngày 18-8-1949 thực dân Pháp tấn công xã Tam Canh. Trước đó vào ngày 16-8-1949 nhân dân Tam Canh đã theo lệnh của chính phủ đã tản cư lên các xã thuộc vùng núi Tam Đảo. Do lực lượng chênh lệch nên Pháp đã nhanh chóng chiếm được Tam Canh.
Sau khi chiếm được Tam Canh, là nơi huyết mạch trong vùng. Pháp đã lập ra chính quyền tay sai gọi là xã ủy. Có tên thông ngôn Trịnh Duy Lãng làm nhân mối cho chúng.
Về quân sự bọn địch xây dựng hệ thống đồn bốt tháp canh chốt những vị trí quan trọng đầu mối giao thông và quân sự. Bốt THÀNH ĐEN nơi UBND xã Tam Canh làm việc hiện nay thường xuyên đóng một tiểu đoàn lính. Trong khu bốt này chúng xây hai lô cốt bằng xi măng kiên cố hai lô cốt này và lô cốt cầu Treo tạo thế chân kiềng bảo vệ vững chắc khu Bốt Đen.. (Sách đã dẫn trang 38)
Như vậy Bốt Đen không chỉ là tên gọi một lô cốt mà cũng là là tên gọi chung cả khu đất có ngôi nhà hai tầng và các lô cốt lân cận.
Thời gian xây các lô cốt này trong khoảng từ tháng 9~11 năm 1949. Với nhiệm vụ là chốt chặn quân sự đầu cầu, ngăn chặn lực lượng Việt Minh tiến công cũng là nơi phòng thủ khi có tấn công bằng hỏa lực. Từ tòa nhà của bộ chỉ huy có hệ thống hào kín thông ra các lô cốt, hệ thống hào này còn khá nguyên vẹn cho đến khi bị san lấp trong quá trình làm đường, bãi kéo song.
Đến mùa hè năm 1954, sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Pháp buộc phải rút quân, chúng đã tiêu hủy các hệ thống phòng thủ bằng thuốc nổ, tuy nhiên do các lô cốt và hệ thống hầm hào xây kiên cố bằng xi măng từ Pháp chuyển sang nên chỉ phá hủy được 2/3 lô cốt tại khu vực này, hệ thống hầm hào cũng chỉ phá hủy được một phần trước khi rút đi.
3. LỊCH SỬ LÀNG XUNG QUANH CHIẾC BỐT ĐEN.
Nhân đây, cùng xem lại lịch sử làng liên quan đến Bốt Đen.
Thời xưa tại vị trí Bốt Đen bây giờ có một chiếc cổng làng rất đẹp gọi là cổng Cầu Treo đây là cổng chính trong hệ thống chín chiếc cổng của làng.
Hai bên cổng có đôi câu đối
“Nhất điều thạch lộ thông Tam Đảo
Tứ diện giang khung tỏa nhị kiều”
Nghĩa là:
Một con đường đá thông lên Tam Đảo
Bốn mặt sông quanh khóa bởi hai cầu
Câu đối tả địa thế của làng Hương Canh xưa kia có dòng sông Cánh bao quanh, dân cư ở tập trung giới hạn trong khoảng hai chiếc cầu bắc qua sông (Cầu Lò Cang & Cầu Treo). Lại có con đường rải đá ( đường quốc lộ 2 cũ bây giờ) thông lên tận vùng Tam Đảo.
Sau khi lực lượng Việt Minh giành chính quyền sau Cách mạng tháng 8-1945 và toàn quốc kháng chiến nổ ra vào 12/1946 cuộc sống nhân dân ở Hương Canh không có nhiều biến động. Mãi đến năm 1949 trong các chiến dịch tiến quân lên trung du, giặc Pháp mới chiếm được Hương Canh vào ngày 18/8/1949
Tại vị trí đầu làng vốn có một ngôi nhà hai tầng xây năm 1938 lai Pháp của một gia đình bị giặc chiếm làm sở chỉ huy. Từ đó cổng làng đã bị phá để xe quân sự kéo pháo tiến vào bãi pháo (nay là khu vực trạm y tế).
Các hệ thống hầm hào được Pháp cho các tù binh và dân phu bị bắt xây dựng thành một hệ thống liên hoàn từ bộ chỉ huy tới các vị trí phòng thủ tại đầu cầu.
Không chỉ xây dựng bốt tại đầu cầu Treo, còn có nhiều bốt tại khu vực khác như : Bốt Đỏ (xóm Vam Dộc), bốt Cầu Chợ (Cầu Lò Cang) bốt Chợ Cánh (nay là hiệu thuốc Nhân), bốt cổng Cổng Gợ.
Ngày 23/11/1949 khi những người dân Hương Canh đã đi tản cư lại được lệnh của chính phủ ta cho phép quay trở lại làng thì đã thấy hệ thống đồn bốt đang được xây dựng gần xong. Dân cư trong làng tạm thời phải sống trong những nhà tập trung một thời gian rồi mới được về nhà cũ (khi đó, vùng tản cư gọi là vùng tự do, về lại vùng Pháp chiếm gọi là về Tề).
Trong thời gian Pháp chiếm Hương Canh và xây đồn bốt phòng thủ, thực tế không có trận đánh lớn đánh kể nào giữa lực lượng chủ lực Việt Minh và giặc Pháp diễn ra. Lần tấn công có tính uy hiếp gần kề nhất của các chiến sĩ Việt Minh khi tràn xuống đồng bằng trong chiến dịch Trần Hưng Đạo vào năm 1951 thì quân ta chỉ tiến tới địa phận xã Tam Hợp ngày nay. Và sau đó, do pháo binh của Pháp từ Miếu Thượng bắn yểm trợ đã gây thương vong lớn cho lực lượng Việt Minh nên quân ta lại phải rút lên chiến khu Việt Bắc.
Bốt Đen chỉ có những cuộc nổ súng lẻ tẻ khi quân du kích địa phương và bộ đội huyện C466 tấn công quấy rối đồn bốt của Pháp trên địa bàn.
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, Pháp buộc phải rút khỏi miền Bắc Việt Nam, Pháp tự rút khỏi Hương Canh vào ngày 2-8-1954. Trước khi rút giặc đã cho phá một số hệ thống phòng thủ và Cầu Chợ (Cầu Lò Cang.
Sau này, khi hòa bình lập lại, chính quyền ta tiếp quản sở chỉ huy của Bốt Đen và chỉ sử dụng ngôi nhà là trụ sở ủy ban trong nhiều năm sau, các hầm hào không được sử dụng nên dần bị lấp bỏ.
Từ năm 1956- 1962, toàn bộ khu đất ở đây khoảng 2ha được sử dụng làm trường ” Bồi dưỡng văn hoá các dân tộc” chủ yếu là các thanh niên dân tộc từ miền Trung đến Tây Nam bộ (thực chất là trường đào tạo và bồi dưỡng nguồn cho Cách mạng miền Nam)
Năm 1962, ngôi trường cấp 1 của xã được thành lập trong khu đất gần kề, vì thế người ta thường nói học Cấp 1 tại Bốt Đen. (Nay là Trường Tiểu Học A Hương Canh)
Đến những năm 90 khu vực lô cốt được cho đấu thầu cho thuê làm khu đất trồng cây và dịch vụ chụp điện X- Quang. Năm 2010, khu vực này được san lấp làm bãi kéo song và chợ Hôm. Những lô cốt và hệ thống hầm hào tưởng đã đi vào dĩ vãng chỉ còn trong ký ức của những người nhiều tuổi với những kỷ niệm tuổi thơ, không ngờ lại lại có dịp nhìn thấy, nhớ lại tuổi thơ tinh nghịch của lứa học trò cấp 1 năm nao.
Nay tuy Bốt Đen không được xếp là di tích lịch sử nhưng cũng là di tích chiến tranh, đã gắn bó với lịch sử của Hương Canh. Cái tên Bốt Đen đã gắn bó với hầu hết lứa học sinh của làng.



NGUỒN GỐC LỄ HỘI KÉO SONG HƯƠNG CANH
PHẦN I: KÉO SONG HƯƠNG CANH VÀ CHIẾN THẮNG BẠCH ĐẰNG LỊCH SỬ
Nếu có ai đó muốn tìm hiểu về nguồn gốc lễ hội kéo song Hương Canh, thật không khó khăn khi tìm thấy thông tin trên Internet như sau.
“…Lễ hội kéo song được bắt nguồn từ chiến thuật thao lược, luyện quân thủy chiến của các tướng lĩnh thời kỳ chống quân Nam Hán. Chiến thuật sử dụng dây song kéo điều chỉnh tốc độ của chiến thuyền sao cho phù hợp với thời gian dâng, hạ của thủy triều trên sông Cánh. Đây cũng chính là chiến thuật giúp đại quân của Ngô Quyền giành thắng lợi trước quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng năm 938. Từ đó, trò kéo song được đưa vào tập quán sinh hoạt tín ngưỡng của người dân nơi đây….” ( Ảnh trong phần bình luận)
Đây cũng là một nội dung trong hồ sơ di sản đa quốc gia mà Việt Nam tham gia đệ trình và được UNESCO ghi danh trò chơi KÉO CO là di sản văn hóa phi vật thể.
Không phủ nhận những cố gắng của hội đồng di sản nhằm tôn vinh trò chơi Kéo co của Việt Nam nói chung và lễ hội Kéo Song nói riêng, nhưng thử cùng xem những nội dung trên trên góc nhìn lịch sử và khoa học địa lý.
THỨ NHẤT: NGÔ QUYỀN CÓ THỰC SỰ LUYỆN THỦY QUÂN TRÊN SÔNG CÁNH HAY KHÔNG?
Đại Việt Sử Ký Toàn Thư bản in năm Chính Hòa thứ 18 có nhắc việc sự kiện quân Nam Hán đánh nước ta như sau
“..Mùa đông, tháng 12, nha tướng của Đình Nghệ là Ngô Quyền từ Ái Châu cất quân đánh Công Tiễn. Công Tiễn sai sứ sang đút lót để cầu cứu với nhà Hán. Vua Hán là Cung muốn nhân khi nước ta có loạn chiếm lấy nước, bèn cho con là Vạn Vương Hoằng Tháo làm Tĩnh Hải quân tiết độ sứ, đổi tước phong là Giao Vương, đem quân sang cứu Công Tiễn..”
Như vậy từ khi cất quân đến đánh nước ta và diễn ra trận Bạch Đằng cùng vào mùa đông. Khi Ngô Quyền giết Kiều Công Tiễn vua ở Thành Đại La( Hà Nội) ngày nay. Khoảng cách từ Đại La (Hà Nội) lên sông Cánh (Hương Canh) khoảng 40 km theo đường thủy, hiện nay các đường thủy đã bị phù sa bồi đắp.
Sông Cánh còn gọi là sông Phan, sông Cà Lồ một chi lưu của sông Cầu, bắt nguồn từ dãy Tam Đảo. Về mùa đông, sông cạn nước nhiều chỗ có thể lội qua ngang lưng. Nhưng mùa mưa, nước từ Tam Đảo tràn về, hạ lưu thoát nước kém khiến sông mênh mông bể nước còn mùa khô đi lại khó khăn, nhiều chỗ phải lên bờ kéo thuyền.
Nếu như những gì giả thuyết là đúng thì không hiểu Ngô Quyền từ Đại La tìm đến con sông cạn vào mùa đông làm gì? Luyện tập thủy quân như thế nào ở con sông nhỏ có chỗ chỉ rộng 10m, nước cạn có thể lội ngang bụng vào mùa khô?

CC
Trận Bạch Đằng qua nét vẻ của họa sĩ
THỨ HAI: CHIẾN THUẬT KÉO DÂY SONG ĐỂ LÀM GÌ , ĐIỀU CHỈNH TỐC ĐỘ THUYỀN LÀ GÌ?
Điều đặc biệt trong các hồ sơ/các bài viết có nói: “Chiến thuật sử dụng dây song kéo điều chỉnh tốc độ của chiến thuyền sao cho phù hợp với thời gian dâng, hạ của THỦY TRIỀU trên sông Cánh.
Thủy triều là hiện tượng nước biển, nước sông… lên xuống trong một chu kỳ thời gian phụ thuộc biến chuyển thiên văn, chủ yếu là do sức hút của mặt Trăng
Thủy triều không thể diễn ra tại một nơi nhỏ bé như ở trên hồ, sông nhỏ vì tại đây tổng bề mặt và lưu lượng nước quá nhỏ để tạo ra bất kỳ một sự thay đổi nào có thể nhận thấy. Do đó vừa bằng thực tế vừa bằng khoa học hoàn toàn không có hiện tượng thủy triều trên sông Cánh (Sông Phan)
Nói thêm, giả thử sông Cánh đủ rộng như sông Bạch Đằng để có thể luyện tập thủy quân, thì không hiểu dùng dây song để luyện chiến thuyền là thực hành như thế nào, thuyền ta nhỏ luồn phải luồn lách qua bãi cọc để áp sát thuyền giặc, không hiểu quân ta kéo dây hay dây song để làm gì?
Điều đó rất mơ hồ và ngộ nghĩnh. Nội dung này chỉ phù hợp với các truyện cho thiếu nhi với các trận chiến thắng quân giặc dễ như bỡn như đánh trận giả cho vui mà thôi.
Lần trong chính sử, Đại Việt Sử Ký Toàn Thư bản cũng thuật lại chiến thuật của Ngô hoàn toàn không thấy cái dây song nào:
“…..[Ngô Quyền] Định kế rồi, bèn cho đóng cọc ở hai bên cửa biển. Khi nước triều lên, Quyền sai người đem thuyền nhẹ ra khiêu chiến, giả thua chạy để dụ địch đuổi theo. Hoằng Tháo quả nhiên tiến quân vào. Khi binh thuyền đã vào trong vùng cắm cọc, nước triều rút, cọc nhô lên, Quyền bèn tiếng quân ra đánh, ai nấy đều liều chết chiến đấu.
[Quân Hoằng Tháo] không kịp sửa thuyền mà nước triều rút xuống rất gấp, thuyền đều mắc [20a] vào cọc mà lật úp, rối loạn tan vỡ, quân lính chết đuối quá nữa. Quyền thừa thắng đuổi đánh, bắt được Hoằng Tháo giết đi…”
Cho nên có thể thấy việc kết luận Ngô Quyền cùng các tướng lĩnh tập luyện dựa vào thế nước ở Sông Cánh vào mùa khô (mùa đông) là hoàn toàn không thực tế, nếu không muốn nói là nhảm nhí. Không hiểu vì sao, những thông tin này được tiếp tục lặp đi lặp lại như một sự thực hiển nhiên mà biết bao năm chưa có người thắc mắc?
PHẦN 2: GÓC NHÌN THEO LỊCH SỬ ĐỊA PHƯƠNG
Thứ nhất: Mối liên quan giữa Tiền Ngô Vương ( Ngô Quyền) với các di tích ở Hương Canh.
Cụm di tích ba đình ở Hương Canh cùng thờ sáu vị thành hoàng là những nhân thần triều nhà Ngô, gọi là Lục vị thành hoàng trong đó có con cả của Ngô Quyền là Thiên Sách Vương- Ngô Xương Ngập phong là Thiên Sách Hoàng Đế, con thứ là Nam Tấn Vương – Ngô Xương Văn được phong là Quốc Vương Thiên Tử và Đỗ Cảnh Thạc là tướng của Ngô Quyền cùng ba vị khác được phối thờ
Tuy nhiên việc thờ phụng các ngài được tương truyền như sau (Trích ý theo hồ sơ lập di tích lịch sử Quốc gia ba đình)
Năm 951 (Tân Hợi) Ngô Xương Văn cho người đón anh trai Ngô Xương Ngập về kinh. Được Dương thái hậu chuẩn tấu, Ngô Xương Ngập cũng lên làm vua xưng là Thiên Sách Vương. Lúc đó tồn tại hai vua Nam Tấn Vương và Thiên Sách Vương. Sử gọi là Hậu Ngô Vương.
Tương truyền gặp buổi thái bình hai ngài có đem quân vào săn thú rừng ở Đại Lải, khi về qua làng Hương Canh, vua lệnh cho quân nghỉ lại ở các gò ven sông để thịt thú khao quân. Nhân dân trong làng cùng chuẩn bị vật phẩm xin bái kiến dâng vua . Dân thấy vua khoan dung độ lượng lại không để dân phục dịch thì lấy làm cảm ân công đức của các Ngài mà xin lập sinh từ (đền thờ khi còn sống) để được thuyền xuyên bái vọng và hàm ơn công đức của Ngô Triều và được vua đồng ý, lòng dân hoan hỷ mà mở tiệc cảm tạ hồng ân.
Do đó về mặt quan hệ, người dân địa phương chỉ ghi nhận sự có mặt của hai vua là con trai của Ngô Quyền chứ không phải trực tiếp vua Ngô Quyền.
Ba làng Hương Canh thờ các con của vua, hàng năm vào những nay phong đăng hòa cốc, làng mở hội, làm lễ rước lấy chân hương từ Miếu Thượng vốn là sinh từ được xây trên gò đất mà các ngài đã ngự tại đó.
Tất cả 26 sắc phong đều ban cho các vị Thành Hoàng Lục Vị mà không có của Ngô Quyền, các ngọc phả, câu đối còn lưu lại trong di tích cũng như vậy đề chỉ nhắc tới Hậu Ngô Vương.
Chẳng hạn: Tại cột trụ Hương Canh trước năm 1956 còn lưu đôi câu đối chữ Hán khái quát và ngợi ca công đức của bậc đế vương thờ tại đình:
Sinh vi vương vi đế, hóa vi thánh vi thần, Ngô quốc trung hưng quang cựu nghiệp
Công như hải như sơn, đức như thiên như địa, Hương Canh hành tại kỷ hồng ân.
生為王為帝化為聖為神,吾作中興光舊業
功如海如山德如天如地香粳行在記洪恩
Nghĩa là:
Sống là vương đế, thác là thánh thần, làm sáng lại nghiệp xưa, dựng lại Triều Ngô
Công như sông núi, đức như đất trời, ghi nhớ công ơn dừng chân ở tại Hương Canh.
Tại cổng của đình Tiên Hường còn vế đối:
肅雍宮廟登斯亭者如見後吳家揖遜休風
TÚC UNG CUNG MIẾU ĐĂNG TƯ ĐÌNH GIẢ, NHƯ HẬU NGÔ GIA ẤP TỐN HƯU PHONG
Nghĩa là: Cung kính lên đình, tựa nhà Hậu Ngô đang gìn giữ phong tục đẹp
Có lẽ là những tư liệu sau những năm hòa bình lập lai đã không được khai thác, những người thuộc thế hệ cựu học đã không còn.
Đặc biệt do hệ tư tưởng một thời rằng đình đền phải thờ các vị có công với đất nước như là vua Hai Bà Trưng, Ngô Quyền, Lê Lợi, Quang Trung…..
Cho nên người ta đã áp đặt sự có mặt có Ngô Quyền có mặt tại Hương Canh để dung hòa cho việc đình Hương Canh có thờ các nhân thần triều Ngô. Thực tế Ngô Quyền chưa về thăm Hương Canh và phát biểu gì tại đây. Nhưng điều để các thông tin được ban hành rộng rải như bây giờ là có các bài báo đăng trên các tạp chí địa phương mà chưa qua kiểm định, phản biện.
PHẦN 2: TÌM HIỂU THỰC TẾ CÁC LỄ HỘI VÀ LỄ HỘI KÉO SONG Ở HƯƠNG CANH.
Thứ nhất, tìm hiểu trong tư liệu và hiện vật tại địa phương
Trong bài Vè làng Cánh viết bằng chữ Nôm do cụ Giáo Phan sáng tác năm Giáp Thân 1884, kể về lễ hội, phong tục lịch sử ba làng Hương Canh. Các chương đầu tiên có kể các lễ hội lớn của làng trong năm. Điều đặc biệt không thấy kể lễ hội kéo song. Bài vè dài này được đóng thành sách, trước năm 1954 được cụ chánh tổng Đường Quán cất giữ tại nhà riêng nhưng sau cải cách ruộng đất thì thất lạc. Rất may mắn sách được cụ Nguyễn Khắc Miễn (1919-1991) dịch đọc viết lại thành sách nên giờ vẫn còn lưu lại bản quốc ngữ do chính tay cụ viết.
Các lễ hội được kể tính từ đầu mỗi năm âm lịch như sau:
“..Mồng bốn có hội đấu sào
Ba ngày chuông trống ào ào như lôi..”
Tức hội đấu sào hay hội đánh đòn diễn ra ở quãng đường giữa Chùa Kính Phúc và Đình Hương Canh kéo dài lên đình Ngọc Canh. Hội dùng gậy tre làm vũ khí vụt vào đầu đối phương.
Tiếp theo:
“Tháng hai có tiệc chay bàn
Cờ bay phấp phới, quạt che rườm rà
Trong thì trà tửu xưóng ca
Ngoài thì trai gái lượt là đua chen”
Tiệc Trai bàn tức là cúng tế Rằm Tháng 2, giờ là ngày lễ chính của làng 15-2 âm lịch
Tiếp theo:
Tháng bảy tiệc ấy cũng to
Đại hùng kê phải chọn mua cho cầu
Trên thì tế lễ linh đình
Dưới sông sáu trải dập dìu trải bơi
Ba ngày gắng sức đua tài
Khi thì giải dật, khi bơi giải đào
Thuyền con đây đó dập dìu
Quanh gò Miếu,lại cầu Treo những người
Ngày rằm tháng 7 là ngày lễ Thượng Điền, làng mở hội bơi trải
Vào tháng 7 khi nước lũ Tam Đảo tràn về, đồng ngập nước làng mởi đội đua từ Cầu Treo, vòng lên Miếu ra đồng Mong. Lễ hội thi trong 3 ngày giữa sáu đội của 3 làng mỗi làng hai đội bơi.
Trong hồi ký của cụ Nguyễn Khắc Miễn có viết trong cuốn “Kể chuyện làng ta”
Hội rằm tháng bảy nếu gặp vụ chiêm được mùa, lại lụt đúng lúc, thì có thi bơi trải hội này rất vui
Mỗi làng còn có 2 cái trải, mỗi cái dài độ 10 mét, trai tráng thi bơi rất vui. Có một năm hội Tây, bọn quan lại bắt dân ta phải lên phục vụ chúng tại Đầm Vạc, rất tốn kém và vất vả, thế là các cụ về bỏ trải nát không sửa chữa nữa. Lứa tuổi tôi (sinh 1919) chỉ biết cái trải chứ không được xem bơi.
Những cái trải (cái thuyền) còn được giữ trong đình khá lâu, đặc biệt là trải của làng Ngọc Canh được giữ ở chùa Ngọc Sơn cho đến khi chùa bị phá dỡ năm 1983.

Chạm khắc bơi trải đình Hương Canh
Cuối năm làng cũng có tiệc Hạ Điền vào rằm tháng 10, các giáp mổ lợn ra làm lễ tại miếu diễn tại lại cảnh đi săn của hai vua lúc sinh thời
Bài vè cổ có ghi:
“Hạ điền là tiệc tháng mười
Xôi hơn trăm cỗ, lợn vài mươi con
Bánh dầy, rượu ngọt, cam ngon
Dân phong phú đã tiếng đồn rung rinh”
Mặc khác, ngoài ra tìm hiểu tất cả các bức chạm của ba đình, có các phần mô tả ngày hội ta có thể thấy các bức:
– Bơi trải (Đình Hương Canh, Đình Tiên Hường) mô tả lễ hội bơi trải trên sông Cánh mùa nước
– Hát cửa nhà quan: Mô tả ngày hội làng
– Đấu vật, đánh cờ: Hội ngày Tết
Cũng tương tự bài vè, lễ hội kéo song không được khắc họa tại bất kỳ các mảng chạm nào của các ngôi đình xây từ đời Lê và dần hoàn thiện vào đời Nguyễn.
Thứ hai, tìm hiểu theo lời kể khi phỏng vấn người cao tuổi tại địa phương:
Theo lời kể của các bậc cao niên như cụ Nguyễn Văn Can ( tức cụ Can Tất sinh 1916) nay đã mất. Cụ Nguyễn Văn Mão (tức cụ Mão Vị 1921), Cụ Trần Thị Mạn (tức bà Đinh Khánh sinh 1926), tất cả các cụ nay (2023) đã mất nhưng được hỏi lúc hoàn toàn minh mẫn. Các cụ đều khẳng định trước năm 1945 làng đã có tổ chức kéo song, địa điểm tại Dãy Đánh Đòn, là nơi trung tâm tiếp giáp của 3 làng. Đây cũng là khu vực của hội đấu sào.
Đặc biệt cụ Nguyễn Văn Mão, tức cụ Mão Vị đã khẳng định chắc chắn rằng năm 1936 ông Chánh Tổng Kính mới tổ chức cho dân làng kéo song lần đầu tiên, còn trước năm 1936, làng không tổ chức kéo song. Trước đó, hội làng chỉ thường tổ chức, đánh đòn, bơi trải và nấu cơm thi.
Từ năm 1945, cách mạng thành công, đất nước trải qua giai đoạn kháng chiến chống Pháp, năm 1949 Pháp chiếm đóng Hương Canh nên các lễ hội bao gồm hội kéo song bị bãi bỏ.
Năm 1956 hòa bình đã lập lại được 2 năm, lần đầu tiên kéo song được kéo trong ngày hội mùa, lễ kéo có 3 làng Hương Canh, Ngọc Canh, Tiên Hường nhưng sau đó đất nước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ
Kéo song gián đoạn, mãi đến năm 1978 lại được tổ chức kéo lại.
Khoảng năm 1992~1995 do không bố trí được vị trí kéo song nên bị lễ hội bị gián đoạn
Từ năm 1996 đến nay lễ hội kéo song liên tiếp được duy trì, ngoài thời gian bị tạm ngừng trong 02 năm 2021,2022 do dịch bệnh COVID-19

Bơi trải- chạm khắc đình Tiên Hường
PHẦN III. GIẢ THUYẾT VÀ MINH CHỨNG CHO SỰ BẮT NGUỒN VÀ PHÁT TRIỂN CỦA LỄ HỘI KÉO SONG HƯƠNG CANH
Từ những mình chứng đã nêu, có thể tạm kết luận. Kéo song Hương Canh không tồn tại như là một trò chơi xuyên suốt từ TK10 đến nay. Đặc biệt không có sự liên quan đế việc vua Ngô Quyền luyện quân trên sông Cánh, thậm chí còn xuất hiện rất muộn.
Cần phải khẳng định là kéo co băng dây song (gọi tắt là kéo song) không phải chỉ có ở Hương Canh mà còn có ở các nơi khác.
Tại hội làng Cự Linh – xã Thạch Bàn, huyện Gia Lâm xưa nay thuộc phường Long Biên Hà Nội, trai tráng cũng sử dụng dây song để kéo co ngồi
Theo tư liệu địa phương vùng này, trò kéo co ngồi ở Cự Linh cũng mới có từ năm 1938. Nghi thức kéo co ngồi được tổ chức trong lễ hội đền Trấn Vũ vào ngày mùng 3-3 âm lịch hằng năm với ba mạn tham gia.

Kéo co ở Cự Linh- Long Biên- Hà Nội
Tuy nhiên, ở Hương Canh, khi tìm hiểu chi tiết về sự bố trí song thủ, nghi thức chơi cùng chiến thuật của kéo song Hương Canh, chúng ta cùng có một số nhận định về sự khác biệt rõ ràng với các nơi khác như sau:
– Kéo song là cuộc thi khỏe, thể hiện sức mạnh cơ bắp của đôi tay và nửa thân phía trên của trai tráng.
– Có người tướng phất cờ đứng đầu đội hình để chỉ huy theo lệnh phất cờ
– Có trống đánh thúc giục cũng ở đầu đội hình
– Bố trí quân gồm 25 người ngồi song song với các hố kéo có đường xương sống chạy dọc, các hố đào ngang như hình xương cá
– Quân sĩ tay kéo đồng đều hiệp lực, kéo theo lệnh phất cờ của chỉ huy, chân đạp thành hố
– Đặc biệt vị trí hố cuối cùng chỉ có 1 người, người này có khi đứng cao để quan sát toàn bộ độ hình của hai bên.
–
Với những ấn tượng về thể thức cũng như cách bố trí đội hình có thể dễ dàng nhận ra đây chính là biến thế của đội quân trên một chiếc thuyền bơi trải. Dễ nhận thấy hơn cả là vị trí ‘song thủ’ cuối cùng là vị trí của người cầm sào, chống cho con thuyền đối hướng.

Lễ hội Bơi trải Tứ Yên, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc. Ảnh: INT.

Vị trí cuối cùng ở đội thi đấu kéo song
Vì sao trò bơi trải mất đi và không còn được diễn ra thường niên trên sông Cánh.
Từ những ghi chép của cụ Nguyễn Khắc Miễn, tương ứng với mốc thời gian đã nêu thì khoảng đầu thế kỷ 20 lễ hội bơi trải ở Hương Canh đã bị gián đoạn do việc tổ chức phức tạp và không phải năm nào cũng có nước lụt.
Có lẽ từ khi Pháp hoàn thành song hệ thống thủy điện Liễn Sơn và thông cống Lồ tại Yên Lạc năm 1921 thì Hương Canh ít lụt mùa lũ hơn do thủy lợi đã điều tiết lượng nước mùa mưa. Điều đó làm lễ hội bơi trải ở Hương Canh đã tự nhiên mất đi.
Nhắc lại lời khẳng định của cụ Nguyễn Văn Mão (cụ Mão Vị) khi kể lại lần đầu tiên được xem kéo song là năm 1936. Do Cụ Chánh Tổng Kính tổ chức. Khớp với thời gian mà trò bơi trải bị gián đoạn là hoàn toàn có có sở và hợp lý. Để thay thể một hội thi khỏe đã không còn được duy trì thường xuyên nên người làng đã thay thế một trò thi khác có tính chất tương tự, không mất đi cấu trúc của lễ hội bơi trải cũ.
Tuy nhiên, chính sự biến đổi và tổ chức kéo song lại là một điều tạo nên sự hứng khởi cho nhân dân khi có thể trực tiếp cổ vũ cho các trai tráng được gần hơn trong sự hò reo dậy trời. Vì thế kéo song đã nhanh chóng trở thành hội thì được yêu thích nhất của người dân trong làng.
Lại nói trò kéo song ở Cự Linh- Long Biên cũng chỉ xuất hiện từ năm 1938 và được nhân dân nơi đây thừa nhận mốc thời gian này. Có lẽ không chỉ Hương Canh mà còn một số nơi khác cũng chuyển hóa các trò bơi trải thành trò chơi kéo song khi điều kiện thi đấu trên sông nước đã có phần thay đổi
PHẦN IV:
ĐÁNH GIÁ Ý NGHĨA CỦA TRÒ KÉO SONG HƯƠNG CANH
Các trò chơi ở Hương Canh như Đánh Đòn, Bơi trải, Kéo Song là những hội thi khỏe, thể hiện đề cao sức mạnh của nam giới trong làng.
Cùng với ý nghĩa tôn vinh vị thành hoàng là hai vị vua triều Hậu Ngô là vị vua mang tinh thần thượng võ. Trong đó vua Ngô Xương Ngập và Đỗ Cảnh Thạc là những người trực tiếp tham từng tham gia trận chiến lịch sử đánh thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng năm 938
Mặt khác dân làng Hương Canh đã trải qua hai kỳ vỡ làng năm Canh Ngọ và Giáp Thân cũng bởi do giặc mạnh mà dân yếu mà bị vỡ làng nên đã thấy sự quan trọng của việc rèn luyện sức khỏe, phòng khi làng có giặc giã.
Đánh đòn, Bơi chải không chỉ có thi sức khỏe mà còn cả chiến thuật hay có mẹo hay mới giành chiến thắng.
Khi bơi trải được chuyển thể sang kéo song thì cũng chính bởi mang theo tinh thần và nội dung ấy mà không muốn mất đi nhiều hình ảnh và ý nghĩa của tục bơi trải.
Vậy nên theo chúng tôi, trò diễn Hương Canh nhằm tôn vinh các vị thành hoàng với TINH THẦN KHỎE ĐỂ GIỮ LÀNG, GIỮ NƯỚC, chứ hoàn toàn không phải TÁI HIỆN HIỆN THỦY QUÂN NGÔ QUYỀN luyện quân trên sông Cánh vì việc này là không có thật trong lịch sử và tính khả thi của việc sử dụng dây song trong chiến đấu.
Thông tin không chính xác được lan truyền sẽ không những làm cho những giá trị tốt đẹp được lan tỏa mà còn làm cho thế hệ trẻ hiểu sai về lịch sử, địa lý của địa phương
Cá nhân tôi đã được nhiêu lần đàm đạo với tác giả của những câu chuyện có phần như chuyện, tác giả của những bài viết ấy cũng cho rằng các câu chuyện gửi tạp chí văn nghệ Vĩnh Phúc trước kia cũng có tính văn học.
Tiếc thay do nghèo nàn thông tin về mảng văn hóa mà nội dung những bài báo đó đã được copy nhiều lần để giờ là thông tin chính thống. Tuy nhiên sự thực cần được nhìn nhận dưới góc độ khoa học lịch sử để đảm bảo tính trung thực. Đó cũng là những gì tôi đã ấp ủ những điều đã biết nhưng chưa thể viết bấy lâu.
Hương Canh 30.04.2023
GIẾNG CỔ LÀNG CÁNH
Ba làng Cánh xưa (Hương Canh, Ngọc Canh,Tiên Canh,), nay là thị trấn Hương Canh, huyện Bình Xuyên có 9 giếng cổ. Mặc dù có nhiều đổi thay trong lịch sử cũng như cuộc sống hằng ngày, những giếng cổ này vẫn là một phần không thể thiếu trong đời sống tinh thần của người dân. Hiện nay, các giếng cổ được nhân dân địa phương trùng tu, tôn tạo nhằm gìn giữ, bảo tồn nét đẹp truyền thống của làng quê Bắc Bộ xưa.

Giếng Mướp tại TDP Đông Mướp được hoàn thành trùng tu năm 2023
Sáng 27/2/2023, tức ngày 8/2 năm Quý Mão, chúng tôi được đồng chí Bí thư Chi bộ, Tổ trưởng tổ dân phố (TDP) Đông Mướp, thị trấn Hương Canh mời dự lễ khánh thành trùng tu giếng Mướp. Đây là giếng cổ cuối cùng trong số 3 giếng cổ nằm trên địa bàn TDP được trùng tu, tôn tạo. Buổi lễ có sự tham dự của đông đảo nhân dân địa phương và khách thập phương.
Bí thư Chi bộ, Tổ trưởng TDP Nguyễn Văn Bình đã phát biểu giới thiệu về lịch sử, giá trị về kiến trúc, văn hóa của giếng cổ, về sự cần thiết phải khôi phục, tôn tạo và giữ gìn giếng cổ cho thế hệ sau. Đối với người dân Hương Canh, giếng cổ hiển hiện như một công trình văn hóa, tâm linh, trường tồn theo năm tháng.
Giếng Mướp có hình dạng tương đồng với các giếng khác ở Hương Canh. Nhân dân thôn Đông Mướp đã đóng góp tiền của, công sức để phục dựng lại giếng cổ gồm phần tang giếng và bia ghi tên giếng, ngày tháng trùng tu, tôn tạo.
Theo các tài liệu ghi chép, 3 làng Cánh xưa có 9 giếng cổ: Giếng Treo, giếng Gợ, giếng Chùa, giếng Hạ, giếng Dộc, giếng Mướp, giếng Trong, giếng Giữa và giếng Nội. Các giếng cổ ở Hương Canh không ghi niên đại xây dựng, tuy nhiên, dựa vào kiểu dáng kiến trúc và kỹ thuật chế tác, có thể đoán định những giếng này được làm vào thế kỷ XVIII.
Tương truyền, giếng cổ được khơi lên từ lúc ngôi làng Cánh mới khởi lập do 12 nhà tụ cư đầu tiên của làng hưng công tạo dựng. Các cụ tìm bãi đất bằng, ẩm, quanh năm cỏ mọc xanh rì, ban đêm úp vài cái bát lớn, sáng ra lật lên thấy bát nào có nhiều nước đọng lại thì cắm mốc làm nơi động thổ. Việc đào giếng không chỉ dùng sức mà đòi hỏi phải có tri thức và kinh nghiệm. Để chống lún và tránh cát đùn, các cụ lót một lớp cát dày, một lớp sỏi cuội nhỏ rồi lát 12 phiến gỗ dưới đáy giếng.
Để chống trôi trượt, các cụ chọn những hòn đá hình bầu dục đem về xếp xung quanh làm thành giếng. Đá được xếp thành từng lớp, cứ hết một lớp đá lại rải một lớp sợi dây guột và dây bòng bong già; đồng thời, chèn vào khe hở những hòn đá cuội nhỏ, nhồi chặt bằng đất sét vàng. Cứ thế, đá được xếp ngay ngắn, chắc chắn từ đáy trở lên tang giếng, qua bao năm tháng không hề xói lở. Tang giếng hình lục giác gồm 6 phiến đá vân xanh có cùng kích thước lắp ghép với nhau bởi mộng đuôi cá.
Nước giếng cổ ở Hương Canh rất trong và mát, khi uống có vị ngọt dịu tự nhiên. Đến nay, các cụ cao niên vẫn thường lấy nước giếng để pha trà, khi uống trà rất ngon và thanh mát. Trước đây, người dân Hương Canh có tục nạo giếng vào cuối năm để hút bùn, cải tạo giếng. Vào đêm giao thừa, người dân ra giếng lấy nước uống để mong cầu một năm mới may mắn, bình an. Mỗi giếng cổ ở làng thường gắn với một am hoặc điếm thờ, người dân đến đây thắp hương vào mỗi dịp lễ, Tết.
Từ bao đời nay, gia đình cụ Nguyễn Thị Khánh (93 tuổi) ở TDP Lang Bầu (nhà ở cạnh giếng Gợ) vẫn dùng nước giếng cổ để nấu ăn và sinh hoạt. Cụ Khánh cho biết, nước giếng Gợ ngọt và mát, khi uống vào có cảm giác khoan khoái, dễ chịu. Đặc biệt, giếng chưa bao giờ cạn nước.
Giếng đã được trùng tu, tôn tạo từ tháng 12/2021. Từ đáy giếng lên đến tang giếng được giữ nguyên bản. Phần tang giếng hình bát giác được ghép lại từ 8 phiến đá. Gần mặt giếng có thiết kế tấm chắn bằng thép để đảm bảo an toàn. Sân giếng cũng được lát gạch dày kiên cố, có độ dốc lớn để nước thải chảy theo rãnh. Xung quanh khuôn viên giếng cổ có những bức tranh phong cảnh làng quê, có bồn hoa và cây xanh tỏa bóng mát.
Phó Chủ tịch UBND thị trấn Hương Canh Vũ Thị Thúy Hằng cho biết: “Những chiếc giếng cổ có ý nghĩa lớn trong đời sống văn hóa, tinh thần của người dân địa phương. Giếng cổ không chỉ mang dấu ấn lịch sử mà còn chứa đựng giá trị văn hóa dân gian sâu đậm, trường tồn theo thời gian.
Hiện nay, nhân dân địa phương đã trùng tu, tôn tạo được 7/9 giếng cổ trên địa bàn. Thời gian tới, địa phương sẽ kiến nghị UBND tỉnh xếp hạng di tích đối với các giếng cổ làm cơ sở để nhân dân địa phương tiếp tục gìn giữ, bảo tồn giếng cổ cho muôn đời sau”.
Bài, ảnh: Bạch Nga
Theo Báo Vĩnh Phúc
Lễ đón Bằng xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt cụm đình Hương Canh
Ngày 5/3, tức ngày 14 tháng 2 năm Quý Mão, huyện Bình Xuyên long trọng tổ chức Lễ đón nhận Bằng xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt cụm đình Hương Canh, thị trấn Hương Canh. Tới dự có các đồng chí: Hoàng Đạo Cương, Thứ trưởng Bộ VH-TT&DL; Vũ Việt Văn, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh; Hà Quang Tiến, Ủy viên Ban Thường vụ, Trưởng Ban Nội chính Tỉnh ủy.

Thứ trưởng Bộ VH-TT&DL Hoàng Đạo Cương trao Bằng công nhận Di tích quốc gia đặc biệt cho đại diện lãnh đạo huyện Bình Xuyên. Ảnh: Kim Ly
Cụm đình Hương Canh gồm có: Đình Hương Canh, đình Ngọc Canh, đình Tiên Canh, được xây dựng vào thời Hậu Lê cuối thế kỷ XVII, đầu thế kỷ XVIII. Cả 3 ngôi đình đều thờ 6 vị Thành hoàng làng là vua Ngô Xương Ngập, vua Ngô Xương Văn, tướng Đỗ Cảnh Thạc cùng 3 vị thánh mẫu là Linh Quang Thái hậu, Khả/A Lã Nương Nương và Thị Tùng Phu Nhân.
Cụm đình Hương Canh là những ngôi đình cổ tiêu biểu của nghệ thuật kiến trúc đình làng Bắc Bộ. Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, đến nay, nhân dân thị trấn Hương Canh vẫn bảo tồn, duy trì được những kiến trúc nghệ thuật độc đáo của 3 ngôi đình cổ. Cụm đình Hương Canh đã vinh dự được công nhận xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt tại Quyết định số 1649/QĐ-TTg, ngày 29/12/2022 của Thủ tướng Chính phủ.

Nhân dân địa phương nghinh rước Bằng công nhận Di tích quốc gia đặc biệt vào đình Hương Canh. Ảnh: Kim Ly
Tại buổi lễ, Ban tổ chức chương trình đã giới thiệu đến toàn thể bà con nhân dân về giá trị nổi bật của cụm đình Hương Canh. Thứ trưởng Bộ VH-TT&DL Hoàng Đạo Cương trao Bằng công nhận Di tích quốc gia đặc biệt cho đại diện lãnh đạo huyện Bình Xuyên. Nhân dân địa phương nghinh rước Bằng công nhận Di tích quốc gia đặc biệt vào đình Hương Canh và thực hiện nghi thức dâng hương tại đình. Các đại biểu và đông đảo nhân dân tham quan trò chơi Kéo song tại thị trấn Hương Canh.
Lễ đón Bằng Di tích quốc gia đặc biệt diễn ra đúng vào dịp Lễ dâng hương rằm tháng 2 của nhân dân đối với 6 vị Thành hoàng làng. Đây là sự kiện lớn nhằm tôn vinh, quảng bá di sản văn hóa của huyện Bình Xuyên nói chung và cụm đình Hương Canh nói riêng; thể hiện niềm vinh dự, tự hào, đồng thời, đặt trách nhiệm cho Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Vĩnh Phúc nói chung, huyện Bình Xuyên và thị trấn Hương Canh nói riêng trong việc bảo tồn và phát huy giá trị của di tích.

Các đại biểu và đông đảo nhân dân tham quan trò chơi Kéo song tại thị trấn Hương Canh. Ảnh: Kim Ly
Phát biểu tại buổi lễ, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Vũ Việt Văn đề nghị, thời gian tới, huyện Bình Xuyên và thị trấn Hương Canh cần khẩn trương kiện toàn Ban quản lý Khu di tích; thực hiện nhiệm vụ quản lý theo quy định của Luật Di sản văn hóa; xứng đáng là nơi lưu giữ hồn thiêng dân tộc, địa chỉ có giá trị giáo dục truyền thống yêu nước cho các thế hệ hôm nay và mai sau.
Bạch Nga
Theo báo Vĩnh Phúc
ĐỘC ĐÁO NGHỆ THUẬT KIẾN TRÚC CỤM ĐÌNH HƯƠNG CANH
Cụm di tích đình Hương Canh gồm các đình Hương Canh, Tiên Canh và Ngọc Canh, thuộc thị trấn Hương Canh, huyện Bình Xuyên được xây dựng vào thời Hậu Lê trong khoảng cuối thế kỷ 17 đến thế kỷ 18.
Cả 3 đình cùng thờ 6 vị thần mà địa phương gọi là Lục vị Thành Hoàng – Những nhân thần triều nhà Ngô trong lịch sử nước nhà. Trong đó có con cả của Ngô Quyền là Thiên Sách Vương Ngô Xương Ngập được phong là Thiên Sách Hoàng Đế, con thứ của Ngô Quyền là Nam Tấn Vương Ngô Xương Văn được phong là Quốc Vương Thiên Tử và Đỗ Cảnh Thạc là tướng của Ngô Quyền, cùng 3 nhân vật khác được phối thờ là Linh Quang Thái Hậu, Khả Lã Nương Nương và Thị Tùng Phu Nhân.
Không chỉ có giá trị về mặt kiến trúc, điêu khắc dân gian, nơi đây còn là kho tàng chứa đựng nét văn hóa dân tộc, nơi quy tụ, gắn kết cộng đồng.
Tương truyền thứ tự khởi dựng các đình lần lượt là Hương Canh, Ngọc Canh, Tiên Canh (tức đình Tiên Hường) với kết cấu gần giống nhau theo hình chữ Vương với ba tòa Tiền tế – Đại bái- Hậu cung được nối liền với nhau bởi một ống muống. (Trong ảnh: Tổng thể kiến trúc đình Hương Canh)
Nghi môn đình Hương Canh có hình thức rất phổ biến của các ngôi đình, đền vùng đồng bằng Bắc bộ, gồm 4 trụ biểu tạo thành tam quan
Bên trong tòa Trung đường đình Hương Canh, các công trình kiến trúc bằng gỗ được trạm trổ rất tinh tế, khéo léo và độc đáo

Nghệ thuật chạm khắc của đình Hương Canh có quy mộ hoành tráng và nghệ thuật chạm khắc điêu luyện các chủ đề về hội làng và đời sống sinh hoạt của nhân dân. Tiêu biểu là các bức chạm đấu võ, đấu vật, bơi chải, bầu rượu túi thơ, đi săn về, người cưỡi rồng, táng mộ vào hàm rồng, bát tiên… Đây là hình ảnh thu nhỏ của ngày hội làng, nó phản ánh được phần nào sinh hoạt của xã hội thời bấy giờ, tạo nên sự độc đáo của đình Hương Canh
Cách đình Hương Canh chừng 200 m, đình Ngọc Canh có kiến trúc tương tự đình Hương Canh

Trung đường đình Ngọc Canh

Đình Ngọc Canh có rất nhiều bức chạm khắc lớn nhỏ được ghép thành các mảng lớn. Các bức chạm có thể phân thành từng lớp với nội dung khác nhau, hoặc đan xen nhau, lấy hình tượng rồng làm chủ đạo… Nội dung của các bức chạm miêu tả cảnh về cõi trần và cõi tiên, về tự nhiên và về cảnh sinh hoạt đời thường

Đình Tiên Hường có tên cũ theo tên làng là đình Tiên Canh, là ngôi đình có diện tích mặt bằng lớn nhất trong cụm đình Hương Canh
Đình Tiên Canh có bố cục hướng Tây Nam, ra phía sông Hồng, phía Tây của đình là một ao rộng

Người dân, du khách thập phương nô nức kéo nhau về cụm di tích Đình Hương Canh tham quan, chiêm bái tại buổi lễ đón Bằng xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt
Chùm ảnh của Khánh Linh
Theo Báo Vĩnh Phúc:
LỊCH SỬ XÂY DỰNG BA ĐÌNH Ở HƯƠNG CANH
Cụm di tích đình Hương Canh gồm các đình Hương Canh, Ngọc Canh, Tiên Hường nay thuộc thị trấn Hương Canh huyện Bình Xuyên tỉnh Vĩnh Phúc là cụm di tích tiêu biểu cho đình làng miền Bắc nói chung và tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng.
Hương Canh xưa thuộc huyện Yên Lãng trấn Sơn Tây xứ Đoài nơi có nhiều đình làng tiêu biểu của cả nước từng được ngợi ca qua câu ca “Cầu Nam, Chùa Bắc, Đình Đoài” Chính vì thế cụm đình Hương Canh cũng mang nhiều nét đặc trưng tiểu biểu của đình làng xứ Đoài với kết cấu đồ sộ và nghệ thuật chạm khắc độc đáo
Căn cứ vào kết cấu và nghệ thuật chạm khắc của ba đình các nhà nghiên cứu đều cho rằng cụm đình làng Hương Canh được xây dựng vào thời Hậu Lê trong khoảng cuối thế kỷ 17- đến thế kỷ 18.
Theo kết quả điền dã khi xây dựng hồ sơ di tích, tương truyền thứ tự khởi dựng các đình lần lượt là Hương Canh, Ngọc Canh,Tiên Canh ( tức đình Tiên Hường) với kết cấu gần giống nhau theo hình chữ Vương với ba tòa Tiền tế- Đại Bái- Hậu cung được nối liền với nhau bởi một ống muống.
Cả ba đình cùng thờ sáu vị thần mà địa phương gọi là Lục vị Thành Hoàng là những nhân thần triều nhà Ngô trong lịch sử nước nhà trong đó có: Con cả của Ngô Quyền là Thiên Sách Vương Ngô Xương Ngập được phong là Thiên Sách Hoàng Đế, con thứ của Ngô Quyền là Nam Tấn Vương- Ngô Xương Văn được phong là Quốc Vương Thiên Tử và Đỗ Cảnh Thạc là tướng của Ngô Quyền, cùng 3 nhân vật khác được phối thờ là Linh Quang Thái Hậu, Khả Lã Nương Nương và Thị Tùng Phu Nhân.

ĐÌNH HƯƠNG CANH:
Về niên đại đình Hương Canh, hiện nay các tư liệu ghi lại thời gian khởi tạo chính xác các đình đều không còn nên chỉ có thể căn cứ vào nghệ thuật chạm khắc cùng các niên đại trùng tu qua các thời kỳ được khắc ghi trên các câu đầu, thượng lương của di tích
Theo những nghiên cứu gần đây các nhà nghiên cứu đã cho rằng có niên đại khoảng cuối thể kỷ 17, trong khoảng những năm niên hiệu Chính Hòa đời Lê (1680-1705). Nhận định này phù hợp với kết quả điền dã tại địa phương tương truyền sau khi hoàn thành đình Hương Canh thì tiến hành xây Chùa Kính Phúc. Tại chùa Kính Phúc có được ghi niên đại chính xác năm khởi dựng tại cây hương đá với niên hiệu Vĩnh Thịnh thứ 2 đời Lê Dụ Tông là năm 1706.
Tại đình Đình Hương Canh từ khi khởi dựng đến nay, được trải qua một số lần trùng tu, tại gian đại bái còn ghi lại niên đại năm Đồng Khánh thứ 3 (1888)
Lần cuối cùng đình được trùng tu trong thời kỳ phong kiến hoàn thành vào năm 1925. Tại lần trùng tu này đình được lên táng cao 1,2 m đồng thời xây lại các cột trụ biểu của đình.
Ngày 18-10-1964, đình Hương Canh được Bộ Văn Hóa xếp hạng là Di tích lịch sử văn hóa quốc gia, riêng phần chạm khắc được liệt vào loại A.
Từ năm 2007 đến 2010 đình được tu bổ theo chương trình mục tiêu Quốc gia chống xuống cấp di tích, với nguyên tắc bảo tồn tối đa các giá trị nguyên gốc kiến trúc di tích và dáng vẻ của di tích, sử dụng vật liệu gỗ truyền thống, tôn nền, tăng khả năng chống chịu mối mọt và ảnh hưởng của khí hậu đối với các tác phẩm điêu khắc trang trí có niên đại cuối thời Lê, đầu Nguyễn của đình. Đây cũng là lần trùng tu quy mô nhất trong lịch sử xây dựng đình Hương Canh.
Nghệ thuật chạm khắc của đình Hương Canh được xếp hạng là một những chạm khắc tiêu biểu và đỉnh cao của đình làng Bắc Bộ. Với quy một hoành tráng và nghệ thuật chạm khắc điêu luyện các chủ đề về hội làng và đời sống sinh hoạt của nhân dân
Với 19 bức chạm tạo thành 6 mảng trang trí lớn khiến cho nội thất đình Hương Canh thêm uy nghi, sinh động.
Điêu khắc hoành tráng đình Hương Canh là một nghệ thuật điêu luyện mang tính chất bác học rõ rệt. Tất cả mọi bức chạm đều có ý đồ rõ rệt, được phân chia, sắp xếp theo một chủ định, nhưng đều nằm trong một mối tổng hòa chung. Tiêu biểu là các bức chạm: Đấu võ, đấu vật, bơi chải, bầu rượu túi thơ, đi săn về, người cưỡi rồng, táng mộ vào hàm rồng, bát tiên…Đây là hình ảnh thu nhỏ của ngày hội làng, nó phản ánh được phần nào sinh hoạt của xã hội thời bấy giờ tạo nên sự độc đáo của đình Hương Canh.
ĐÌNH NGỌC CANH:
Cách đình Hương Canh chừng 200m, đình Ngọc Canh có kiểu thức kiến trúc tương tự đình Hương Canh,
Tại đình Ngọc Canh, niên đại sớm nhất còn ghi trên di tích tại gian tiền tế với niên đại năm Kỷ Sửu 1769 thời vua Lê Cảnh Hưng.
Gian đại bái của đình còn ghi chi tiết các năm khởi dựng vào năm Gia Long thứ 12 (1813) và đến năm Minh Mạng thứ nhất (1820) hoàn thành sơn thếp vàng son. Ngoài ra còn có ghi năm trùng tu toàn hậu cung năm 1903.
Từ năm 2010 đến 2013 đình Ngọc Canh đình được trùng tu bằng nguồn ngân sách quốc gia, giữ lại kết cấu nguyên bản của ngôi đình cổ.
Về nghệ thuật chạm khắc, đình Ngọc Canh cũng có những bức chạm giống đình Hương Canh như: “đấu vật”, “bơi chải”, “đi săn về” hay những hình rồng phượng, con giống. Tuy nhiên nội dung và nghệ thuật chạm trổ ở đây có những điểm khác với đình Hương Canh. Nếu như ở đình Hương Canh tả nhiều về ngày hội làng, những trò chơi đông người tạo nên không khí vui nhộn thì ở đình Ngọc Canh lại thiên về tả cảnh lao động, những thú vui cuộc sống. Nếu chạm trổ ở đình Hương Canh đẹp trong không khí nhộn nhịp vui tươi thì chạm trổ ở đình Ngọc Canh đẹp trong không gian trầm lắng, suy tư liên tưởng trước thực tế cuộc sống của nhân dân ta nửa cuối thế kỷ 17, như các bức chạm: “Dựng cột buồm”, “Uống rượu”, “Chơi cờ”, “Đến hát nhà quan”. Với lối bố cục chặt chẽ, hài hoà, đường nét phóng khoáng tự do, chú ý khắc hoạ từng chi tiết thể hiện rõ tình cảm, cá tính của từng nhân vật trong bức chạm để rồi có một tác phẩm hoàn hảo, mang nội dung tư tưởng sâu sắc, thể hiện cao độ đề tài định trước. Đó là những thành công nổi bật trong chạm gỗ ở đình Ngọc Canh.
ĐÌNH TIÊN HƯỜNG:
Đình Tiên Hường có tên cũ theo tên làng là đình Tiên Canh, là ngôi đình có diện tích mặt bằng lớn nhất trong cụm đình Hương Canh.
Tại gian hậu cung của đình Tiên Hường có ghi niên đại khởi dựng dựng năm Cảnh Hưng thứ 37 (1776) đây là niên đại xây dựng sớm nhất còn ghi trong đình Tiên Hường.
Tại gian Đại bái của đình Tiên Hường có ghi niên đại tiếp theo của đình tòa đại bái được năm Kỷ Mùi (1799) dưới triều Tây Sơn.
Lần trùng tu gần đây còn ghi lại niên đại vào năm Bảo Đại thứ 13 (1939)
Kết cấu, kiểu thức kiến trúc đình Tiên Hường giống đình Hương Canh và Ngọc Canh, nhưng khác trong trang trí đình Tiên Hường với đình Hương Canh và Ngọc Canh là đề tài về con người ít hơn mà chủ yếu là “tứ linh” (long – ly – quy – phượng), trong đó hình rồng xuất hiện hầu hết trong trang trí ở đây. Tứ linh ở các tư thế khác nhau được kết hợp nhuần nhuyễn hài hòa linh hoạt trong các mảng chạm của đình
Năm 2014 đình được trùng tu bằng nguồn ngân sách quốc gia, giữ gìn nguyên bản kết cấu và dáng vẻ trước kia.
Với nghệ thuật kiến trúc đồ sộ độc đáo cùng những chạm khắc có tính tiêu biểu của đình làng Bắc Bộ, cụm di tích đình Hương Canh đã được công nhận là di tích quốc gia đặc biệt thể hiện sự đề cao và quan tâm với những di sản và di tích đình làng Việt Nam
Admin
SỰ TÍCH LỤC VỊ THÀNH HOÀNG Ở HƯƠNG CANH

Cụm di tích ba đình ở Hương Canh cùng thờ sáu vị thành hoàng là những nhân thần triều nhà Ngô, gọi là Lục vị thành hoàng trong đó có con cả của Ngô Quyền là Thiên Sách Vương- Ngô Xương Ngập phong là Thiên Sách Hoàng Đế, con thứ là Nam Tấn Vương – Ngô Xương Văn được phong là Quốc Vương Thiên Tử và Đỗ Cảnh Thạc là tướng của Ngô Quyền đã có công đánh đuổi quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, cùng 3 nhân vật khác được phối thờ là Linh Quang Thái Hậu, Khả Lã Nương Nương và Thị Tùng Phu Nhân.
Ngược dòng lịch sử, năm 938 với chiến thắng tại Bạch Đằng, Ngô Quyền đã chấm dứt nền thống trị hơn 1000 năm Bắc thuộc, mở ra một kỷ nguyên độc lập và lâu dài cho dân tộc Việt Nam. Ngô Quyền và Triều đại nhà Ngô được coi là triều đại đầu tiên trung hưng cho nên độc lập.
Năm 944, Ngô Quyền mất, ủy thác con trưởng Ngô Xương Ngập cho Dương Tam Kha – em Dương hậu. Dương Tam Kha cướp ngôi, tự lập mình làm vua, xưng là Dương Bình vương. Ngô Xương Ngập chạy về Nam Sách được một hào trưởng là Phạm Lệnh Công che chở. Dương Tam Kha ba lần sai quân đi bắt Ngô Xương Ngập mà không được. Ở Kinh Thành Cổ Loa, con thứ của Ngô Quyền là Ngô Xương Ngập được Dương Tam Kha nhận làm con nuôi .
Từ khi Dương Tam Kha lấy ngôi của nhà Ngô, nhiều nơi không chịu thuần phục, các thủ lĩnh nổi lên cát cứ một vùng thường đem quân đánh chiếm lẫn nhau. Năm Canh Tuất (950), Tam Kha sai Xương Văn cùng hai tướng Dương Cát Lợi và Đỗ Cảnh Thạc đem quân đi đánh hai thôn Đường, Nguyễn ở Thái Bình. Ngô Xương Văn đi đến nửa đường, dụ hai tướng quay lại lật đổ Dương Tam Kha.
Năm 951 (Tân Hợi) Ngô Xương Văn cho người đón anh trai Ngô Xương Ngập về kinh. Được Dương thái hậu chuẩn tấu, Ngô Xương Ngập cũng lên làm vua xưng là Thiên Sách Vương. Lúc đó tồn tại hai vua Nam Tấn Vương và Thiên Sách Vương. Sử gọi là Hậu Ngô Vương.
Tương truyền gặp buổi thái bình hai ngài có đem quân vào săn thú rừng ở Đại Lải , khi về qua làng Hương Canh, vua lệnh cho quân nghỉ lại ở các gò ven sông để thịt thú khao quân. Nhân dân trong làng cùng chuẩn bị vật phẩm xin bái kiến dâng vua . Dân thấy vua khoan dung độ lượng lại không để dân phục dịch thì lấy làm cảm ân công đức của các Ngài mà xin lập sinh từ (đền thờ khi còn sống) để được thuyền xuyên bái vọng và hàm ơn công đức của Ngô Triều và được vua đồng ý, lòng dân hoan hỷ mà mở tiệc cảm tạ hồng ân.
Nơi nhà vua đóng quân hiện còn di tích là gò Ngự, gò Sấm . Khi nhà vua đi rồi dân lập sinh từ ở Miếu Thượng, miếu Hạ . Miếu Thượng còn gọi là miếu Mong, chữ Mong là ấy ý ở chữ Vọng là mong ngóng.
Di tích Miếu Thượng được lập trên gò ven sông ở ngoài làng là nơi vua đã hạ trại vốn là Sinh từ phụng thờ nhà vua từ khi còn tại thế và được lịch triều sắc phong. Miếu Thượng được coi là chốn địa linh của Hương Canh, được nhân dân đời đời phụng thờ cầu tất ứng, thí tất linh.
Cụm đình làng Hương Canh được xây dựng khoảng thế kỷ 18, sau khi hoàn thành đình nhân dân nghinh rước bài vị của các thánh vào trong các đình thờ phụng làm thành hoàng ba làng . Chính về thế ở Hương Canh miếu là nơi thờ chính, các đình là nơi phối thờ và là nơi thờ vọng các thánh.
Để tỏ lòng cung kính với các thánh và kỷ niêm công ơn các vua đã đặt chân tại đất này, hàng năm mở hội nhân dân trong làng cùng nhau ra miếu Thượng xin chân nhang về thờ trong những hội.
Bởi vậy nghệ thuật điêu khắc tại các đình Hương Canh, Ngọc Canh, Tiên Hường đã mang tinh thần của những tích chuyện gắn với những sự kiện trong truyền thuyết xưa như những mảng chạm: Đi săn, Đấu vật, Bơi chải, Săn hổ, …..hay những mảng chạm khắc thể hiện không khí tưng bừng vui tươi trong ngày hội làng. Các đại tự, hoành phi câu đối trong đình cũng ghi lại như:
Tại gian chính của Đình Tiên Hường có ba chữ đại tự
ĐẾ THỐNG THỦY ( Đời vua đầu tiên thống lĩnh )
Đại tự khẳng định công trạng của triều Ngô đã khai sáng cho nền độc lập nước nhà
Tại cột trụ Hương Canh trước năm 1956 còn lưu đôi câu đối chữ Hán khái quát và ngợi ca công đức của bậc đế vương thờ tại đình:
Sinh vi vương vi đế, hóa vi thánh vi thần, Ngô quốc trung hưng quang cựu nghiệp
Công như hải như sơn, đức như thiên như địa, Hương Canh hành tại kỷ hồng ân.
Nghĩa là:
Sống là vương đế, thác là thánh thần, làm sáng lại nghiệp xưa, dựng lại Triều Ngô
Công như sông núi, đức như đất trời, ghi nhớ công ơn dừng chân ở tại Hương Canh.
Admin
.
SẮC PHONG HƯƠNG CANH
THEO TƯ LIỆU XÃ CHÍ AJ/05 VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM SO SÁNH VỚI
THỐNG KÊ VIỆN THÔNG TIN KHOA HỌC XÃ HỘI
Hương Canh có 26 Đạo sắc

HƯƠNG CANH THỜI TẠM CHIẾM 1951








