HƯƠNG CANH

THÔNG TIN LỊCH SỬ -VĂN HÓA- CON NGƯỜI HƯƠNG CANH XƯA & NAY.

GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ HƯƠNG CANH

Đình Hương Canh năm 2005

Hương Canh là tên gọi chung của ba làng Hương Canh, Ngọc Canh, Tiên Canh của huyện An Lãng, trấn Sơn Tây đời Lê nay là thị trấn Hương Canh, huyện lỵ huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc.

Hương Canh có tên nôm là Kẻ Cánh, chữ “Cánh” của tên làng chính là lấy tên từ sản vật địa phương là giống lúa gié cánh nổi tiếng xưa kia. Tên nôm ấy cũng thuần túy như tên bao làng xã khác khi xưa ở miền Bắc như các làng Kẻ Mía (Đường Lâm- Sơn Tây). Kẻ Mỏ ( Minh Tân, Yên Lạc). Kẻ Bưởi (Yên Thái), Kẻ Mọc (Nhân Mục)…..

Tên Nôm của các làng khi xưa thường được đặt do lấy gợi ý từ đặc thù về cảnh quan, môi trường sinh thái nơi làng đó cư trú hoặc cũng có khi  hình thành do có nhiều một loại lương thực hoặc hoa màu

Từ “ Kẻ” trong tiếng Việt cổ được hiểu là một vùng đất rộng lớn, dân cư đông đúc, cũng là trung tâm chính trị và văn hóa cả những vùng lân cận. Những làng ít dân cư, kinh tế kém phát triển hơn không cũng không được gọi là kẻ mà chỉ đơn thuần gọi là làng và tên gọi làng ấy, nhân dân trong vùng cũng quen gọi 3 làng Hương, Ngọc, Tiên là BA LÀNG CÁNH.

Như thế, tên ba làng là từ tên lúa mà ra. Trước hết là làng Hương, cái tên lấy từ mùi thơm cốm non để gọi,sau có thêm làng Ngọc, có làng Tiên. Tên chữ của ba làng được ghi vào thư tịch, vào thượng lương, các đầu của đình chùa là Hương Canh, Ngọc Canh và Tiên Canh. Có ba làng Canh như thế, nên sau này cả ba làng gộp lại mới thành  Tam Canh

Ý nghĩa ấy được lưu truyền qua mấy câu ca :

Hương Canh tên gọi lúa thơm

Lúa Gié Kẻ Cánh mang ơn đất lành

Tên làng đã có từ lâu

Ghi trong thư tịch, câu đầu, thượng lương.

Làng Tiên, làng Ngọc, làng Hương

Cùng thờ Lục vị Đại vương thành hoàng

Xem trong sử sách rõ ràng

Gié Cánh đặc sản ba làng Hương Canh.

Hương Canh xưa các cụ truyền lại, làng được sông Cánh bao quanh như hình quả bầu nậm, lấy nguồn đỉnh  ngọn núi Độc Tôn

Cứ trong địa lý mà suy

Ta nay được thế y như quả bầu

Đôi bên hổ phục long chầu

Con sông uốn khúc nhịp cầu bắc ngang

Bên Lò Ngói, bên Lò Cang

Bên thì chợ Cánh quán hàng như nêm

(Vè làng Cánh- cụ giáo Phan-1884)

Bản đồ hành chính Hương Canh và các vùng phụ cận (Bấm vào đây để tải)

Trong các thư tịch đời Lý Trần, Hương Canh chưa được nhắc nhiều tới các sách sử có nói  về trận chiến đấu của quân Trần (Trần Thái Tông và Lê Phụ Trần chỉ huy) nhằm trì hoãn bước tiến của quân Mông Cổ (Ngột Lương Hợp Thai) tại cánh đồng Bình Lệ (nay thuộc huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc, bắc Hà Nội khoảng 30 km , trong cuộc Kháng chiến chống Mông Cổ 1258. Tại đây, quân Mông Cổ vượt Sông Hồng dùng kị binh tiến công từ nhiều phía. Quân Trần (Lê Phụ Trần) chống cự mãnh liệt nhưng không chế ngự được kị binh trên địa hình trống trải nên phải rút về Phù Lỗ, phá cầu và bố trí ở nam sông chặn địch .  Theo nhà sử học Đào Duy Anh thì  Bình Lệ Nguyên  là huyện Bình Nguyên, đời Mạc đổi là Bình Tuyền sau lại đổi là Bình Xuyên tức huyện Bình Xuyên, Vĩnh Yên sau này. Nó nằm tại xã Tam Canh giáp giới giữa Vĩnh Yên và Phúc Yên ngày nay.

Tuy nhiên, ngày nay không thấy dấu tích của trận đánh xưa và ngay cả trong những câu chuyện xa xưa của nhân dân nơi đây cũng chưa nhắc tới sự kiện này. Hay là lịch sử 800 năm đã xóa nhòa đi tất cả, vả lại trong phần phân tích phía sau thì mãi đến năm cuối thể kỷ XIX thì Hương Canh mới thuộc Bình Xuyên , trước đó Bình Nguyên hay Bình Tuyền là đất đai của Thái Nguyên, điều này cần được tìm hiểu thêm.

Theo sử sách và niên biểu còn lại qua văn bia, Hương Canh  đời Trần thuộc huyện Yên Lãng,  Châu Tam Đái, lộ Đông Đô. Châu Tam Đái khi ấy gồm 6 huyện Phù Long (gần huyện Vĩnh Tường hiện nay), Yên Lãng (Mê Linh, một phần Bình Xuyên hiện nay), Phù Ninh (Phù Ninh hiện nay), Yên Lạc (Yên Lạc hiện nay), Lập Thạch (Lập Thạch hiện nay), Nguyên Lang (một phần Phù Ninh hiện nay).

Vùng đất Tam Đái đất đai trù phú, trai giỏi cày cấy, gái chăm việc tầm tang, vì thế xa xưa người ta đã có câu nói

“Thứ nhất Tam Đái, thứ  nhì Khoái Châu” .

Những năm đầu Lê Sơ, Vua Lê Thái Tổ chia đất thành 5 đạo: Đông, Tây, Nam, Bắc (tương ứng với Bắc Bộ ngày nay) và Hải Tây (từ Thanh Hóa vào đến Thuận Hóa). Hương Canh thuộc Tây đạo

Năm 1466 vua Lê Thánh Tông chia cả nước thành 12 đạo thừa tuyên  Hương Canh thuộc thừa tuyên Quốc Oai

Năm Quang Thuận thứ 9 đời nhà Lê tức năm 1469, vua Lê Thánh Tông thực hiện cải cách trên nhiều lĩnh vực trong đó có việc chia lại các làng xã,đổi tên châu thành phủ,  đổi tên thừa tuyên Quốc Oai ra thừa tuyên Sơn Tây. Đến năm 1490 đổi thừa tuyên thành trấn, phía dưới có các huyện, dưới các huyện, phủ. Ba làng Cánh khi đó thuộc phủ Tam Đái, huyện An Lãng, trấn Sơn Tây. Trấn Sơn Tây ở phía Tây kinh thành Thăng Long do đó cũng được gọi là xứ Đoài (trong bát quái của Kinh Dịch, cung Đoài đại diện cho hướng Tây). Vì thế từ xa xưa 3 làng cánh đã nổi tiếng qua câu ca dao

“Xứ Nam(1) nhất chợ Bằng Gồi(2)

Xứ Bắc(3): Vân Khám(4): xứ Đoài: Hương Canh”

Xứ Nam là  xứ Sơn Nam là các tỉnh Hà Nam, Ninh Bình, Nam Định, Thái Bình và một phần các tỉnh Hưng Yên, Hà Nội ngày nay.

Làng Bằng Gồi nay thuộc huyện Thường Tín  phía Nam thành phố Hà Nội (Hà Tây cũ)  .

Xứ Bắc tức xứ Kinh Bắc là Bắc Ninh, Bắc Giang, một phần Hưng Yên và huyện Hữu Lũng -Lạng Sơn ngày nay.

Làng Vân Khám nay thuộc xã Hiên Vân, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh.

Đời Nguyễn, năm Minh Mệnh thứ 2 (1821)  phủ Tam Đái đổi tên là phủ Tam Đa.

Sang năm thứ 3 (1822), đổi tên là phủ Tam Đa thành Vĩnh Tường, trấn Sơn tây ra tỉnh Sơn Tây.

Năm 1832, trích 2 huyện Yên Lạc và Yên Lãng thành lập phân phủ Vĩnh Tường; phủ Vĩnh Tường còn lại 3 huyện: Bạch Hạc, Lập Thạch, Tam Dương.

Năm 1890, phân phủ Vĩnh Tường giải thể trong công cuộc chia để trị của thực dân Pháp.

Thực hiện chính sách cai trị trên, các tỉnh Sơn Tây, Bắc Ninh, Thái Nguyên bị cắt  xén bớt  đi, các tỉnh mới – trong đó có Vĩnh Yên, Phúc Yên lần lượt ra đời.

Ngày 6-1-1890, Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định thành lập đạo Vĩnh Yên bao gồm phủ Vĩnh Tường, 5 huyện thuộc tỉnh Sơn Tây (là Bạch Hạc, Lập Thạch, Tam Dương, Yên Lạc, Yên Lãng), huyện Bình Xuyên của tỉnh Thái Nguyên và một phần huyện Kim Anh của tỉnh Bắc Ninh. Lỵ sở của đạo Vĩnh Yên đặt tại Hương Canh nên nhân dân lúc bấy giờ còn gọi Vĩnh Yên là tỉnh Cánh.

Thời nhà Trần, huyện Bình Xuyên có tên là Bình Nguyên.

Năm 1469, Bình Nguyên đổi thành huyện Bình Tuyền.

Năm 1841, Bình Tuyền được đổi lại thành huyện Bình Xuyên.

Thời nhà Nguyễn, Bình Xuyên thuộc phủ Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.

Năm 1890, Bình Xuyên thuộc tỉnh Vĩnh Yên mới thành lập, huyện lị là Đạo Tú.

Tuy nhiên đến ngày 12 tháng 4 năm 1891, Toàn quyền Đông Dương lại ra Nghị định giải thể đạo Vĩnh Yên và giao cho công sứ tỉnh Sơn Tây quản lý, như vậy đất tỉnh Sơn Tây thêm huyện Bình Xuyên, Hương Canh lại trở về với tỉnh Sơn Tây.

Hơn 8 năm sau, ngày 29 tháng 12 năm 1899, tỉnh Vĩnh Yên mới được tái lập, tỉnh lỵ đặt tại xã Tích Sơn huyện Tam Dương.

Ngày 6/10/1901, huyện Yên Lãng của tỉnh Vĩnh Yên được tách ra, cùng với phủ Đa Phúc, huyện Kim Anh, một phần huyện Đông Khê (thuộc phủ Từ Sơn của tỉnh Bắc Ninh) lập thành tỉnh mới Phù Lỗ.

Tuy nhiên phần đất phía Đông Bắc của huyện Yên Lãng bao gồm là hai tổng Hương Canh và Yên Lãng (vùng Thanh Lãng & Phú Xuân) được giữ lại Vĩnh Yên để nhập vào Bình Xuyên .

Hương Canh trở thành huyện lỵ huyện Bình Xuyên

“Quê em ở Vĩnh Yên thành,

Bình Xuyên là huyện, Hương Canh là làng”

Huyện Bình Xuyên lúc này gồm đất đai ba huyện: Bình Xuyên- Yên Lãng- Tam Dương

Hành chính khá ổn định trong khoảng nửa đầu thế kỷ XX, Hương Canh vẫn là huyện lỵ của Bình Xuyên.

Có một số tài liệu nói rằng khoảng năm 1841 đất huyện Bình Xuyên cắt về Sơn Tây (Địa chí Vĩnh Phúc) hoặc Hương Canh là tổng trước kia thuộc huyện Bình Tuyền đều không có cơ sở.  Vì thực tế năm 1891 mới giải thể đạo Vĩnh Yên hành chính lại lệ thuộc và Sơn Tây,  còn Bình Tuyền thì đã đổi thành Bình Xuyên từ năm 1841 không có việc Hương Canh thuộc Bình Tuyền hay Quốc Oai gì cả…

(Sách Lịch sử  đảng bộ xã Hương canh có trích dẫn:Tổng Hương Canh Thuộc huyện Bình Xuyên tỉnh Thái Nguyên.Trước kia Bình xuyên có tên là Bình Nguyên, đến đời Lê Hồng Đức đổi tên là Bình Tuyền. Năm Thiệu Trị thứ nhất (1841) đổi tên là Bình Xuyên thuộc tỉnh Thái Nguyên

Sách dư địa chí Vĩnh Phúc- Nguyễn Xuân Lân- có ghi “ Có thể trong khoảng thời gian 1842 đất đai của Tam Đái được cắt về Bình Xuyên”

Sách danh nhân Bình Xuyên: Hương Canh  liên tục là huyện lỵ của Bình Xuyên từ năm 1842….

Và còn rất nhiều bài được đăng trên tạp chí Vĩnh Phúc với nội dung sai như vậy…..)

Sau ngày cách mạng tháng 8 thành côngthực hiện chủ trương sát nhập xã nhỏ thành xã lớn của chính phủ vào tháng 4 năm 1946, ba làng Cánh sát nhập thành một xã gọi là xã Tam Canh là địa giới của thị trấn Hương Canh ngày nay tuy nhiên cái tên Tam Canh cũng được gọi từ trước cách mạng . Trong tờ khai của chức sắc làng năm 1938 thì  đã có 3 chữ TAM CANH MIẾU 三粳庙được đắp miếu Thượng 。

Nghị định số 03 TTg ngày 12 tháng 2 năm 1950 của Thủ tướng Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà. Vĩnh Yên và Phúc Yên sát nhập thành Vĩnh Phúc. Lúc này Tam Canh nằm trong vùng tạm chiếm của thực dân Pháp.

Sau hiệp định Genève 1954,  Pháp rút khỏi Vĩnh Yên,  rồi cải cách ruộng đất năm 1955 xã Tam Canh lại được thay đổi tên gọi trong nội bộ bằng việc hình thành các hợp tác xã những năm 60.

Làng Hương Canh được chia ra, sát nhập vào làng Ngọc Canh gọi là Hương Ngọc ,phần còn lại sát nhập vào HTX Tiên Hường.

Đến  lúc này cái tên HƯƠNG CANH bị mất khỏi tên địa danh hành chính sau nhiều thế kỷ thăng trầm của lịch sử đất nước. Lớp người sinh ra trong vùng chỉ biết qua các tên : thôn Tiên Hường và thôn Hương Ngọc, xã Tam Canh.

Ngày 26-1-1968, Uỷ ban thường vụ Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra Nghị quyết số 504-NQ/TVQH  tiến hành hợp nhất hai tỉnh Phú Thọ và Vĩnh Phúc thành tỉnh Vĩnh Phú.

Ngày 5 tháng 7 năm 1977 huyện Mê Linh thành lập trên cơ sở hợp nhất 2 huyện Bình Xuyên và Yên Lãng,  Tam Canh thuộc Mê Linh Hà Nội.

Ngày 26-2-1979, Vĩnh Phú chia huyện Tam Đảo thành 2 huyện Tam Đảo và Lập Thạch, Tam Canh lại được về với Vĩnh Phúc là xã lẻ của huyện Tam Đảo,  phần đất còn lại của vẫn thuộc Hà Nội cho đến năm 1991.

( Huyện Tam Đảo cũ được thành lập  ngày 5-7-1977, do hợp nhất huyện Lập Thạch với huyện Tam Dương)

Địa danh Tam Canh- Tam Đảo- Vĩnh Phú được ổn định trong khoảng  20 năm đến T

Ngày 1-1-1997 tỉnh Vĩnh Phúc chính thức được tái lập và đi vào hoạt động, tỉnh lỵ là Vĩnh Yên . Lúc này Tam Canh là xã của huyện Tam Đảo tỉnh Vĩnh Phúc. Còn huyện lỵ của Tam Đảo là xã Thanh Vân. Khi ấy khoảng cách từ Hương Canh tới tỉnh lỵ (Vĩnh Yên) còn gần hơn cả so với khoảng cách tới huyện lỵ (Thanh Vân)

Ngày 9-6-1998, lại tách huyện Tam Đảo thành 2 huyện Tam Dương và Bình Xuyên. Như vậy đến thời điểm này, huyện Tam Đảo không còn tồn tại.

Ngày 1/9/1998, huyện Bình Xuyên chính thức đi vào hoạt động xã Tam Canh đổi  mang tên cũ HƯƠNG CANH với tư cách là thị trấn huyện lỵ của hơn 20 năm về trước, Hương Canh được chia thành các tổ dân phố trên cơ sở những xóm nhỏ của làng xưa.

Bắc Ninh, tháng 1, năm 2012

Trần Ngọc Đông

 Trong Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Hương Canh, thị trấn huyện lỵ Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc; nằm dọc theo QL2 và đường sắt Hà Nội – Lào Cai, cách Hà Nội khoảng 45 Km; nổi tíếng xưa và nay với nghề gốm qua các sản phẩm vại sành và ngói: [1]

“Ai về mua vại Hương Canh
Cho Mai lấy Trúc, cho anh lấy nàng”.

Đặc sản của Hương Canh có “Bánh hòn – Cháo se”. Có khá nhiều giai thoại quanh hai món ăn rất đặc trưng này. Đám cưới chân quê chỉ tổ chức vài mâm “cháo se”, “bánh hòn”; mà những đôi uyên ương vẫn sống đến đầu bạc răng long. Ngoài ra, các cuộc vui gặp mặt bạn bè, mừng con đầy tháng thôi nôi, sinh nhật, mừng thọ, lên lão… rất trang trọng chỉ bằng hai thứ đặc sản đó. [2] Trong những năm của thập kỷ 70 (TK 20), Trường Đại học Xây dựng Hà Nội sơ tán lên Hương Canh.

Advertisements

HÌNH XƯA LÀNG THỔ HÀ

Theo lời kể của người già Hương Canh, gốm Hương có nguồn gốc từ Thổ Hà

Vì thế công nghệ làm đất, chuốt nặn, đun lò đều giống người Thổ Hà

VIE01477

Cổng làng

VIE06240 - Copy

Gác chuông

VIE05556VIE05350VIE05349VIE03088VIE03087VIE03083VIE03079VIE02480

HÌNH XƯA -THÁP BÌNH SƠN

 

VIE01656VIE01657VIE01658VIE01659VIE01660VIE01855VIE01856VIE05402VIE05403VIE05404VIE05405VIE05406VIE05407VIE05408VIE05409VIE05412VIE05439VIE05440VIE05441VIE05442VIE06038

 

SÔNG CÁNH

IMG_7188IMG_7189IMG_7190IMG_7191IMG_7192IMG_7193IMG_7194IMG_7195

LỄ HỘI HƯƠNG CANH XUÂN ĐINH DẬU

Trong hình ảnh có thể có: một hoặc nhiều người, đám đông, bàn, ngoài trời và trong nhà

LỄ TẾ Ở ĐÌNH HƯƠNG CANH

Trong hình ảnh có thể có: 1 người, ngoài trời

LỄ TẾ Ở ĐÌNH NGỌC CANH

Trong hình ảnh có thể có: một hoặc nhiều người, đám đông, bầu trời và ngoài trời

ĐÌNH TIÊN HƯỜNG

Trong hình ảnh có thể có: bầu trời, đám mây, ngoài trời và thiên nhiên

Rước kiệu ra Miếu

Trong hình ảnh có thể có: một hoặc nhiều người, đám đông và ngoài trời

Rước kiệu

Trong hình ảnh có thể có: bầu trời và ngoài trời

Quận Hẻo – Nguyễn Danh Phương

“Danh Phương chiếm Độc Tôn Sơn, / Tuyên-Hưng là đất, Lâm Man là nhà – Lê Ngô Cát, Phạm Đình Toái (Đại Nam quốc sử diễn ca).

Trước năm 1740, ở trấn Sơn Tây có một cuộc khởi nghĩa khá lớn do thủ lĩnh Tế cầm đầu. Trong thành phần của lực lượng tham gia cuộc khởi nghĩa này có một nhà nho trẻ là Nguyễn Danh Phương.

Nguyễn Danh Phương còn có tên là Nguyễn Danh Ngũ, tuy nhiên, người đương thời thường gọi ông một cách thân mật và trìu mến là Quận Hẻo. Ông người làng Tiên Sơn, huyện Yên Lạc, trấn Sơn Tây (nay thuộc huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc). Hiện vẫn chưa rõ Nguyễn Danh Phương sinh vào năm nào. Thư tịch cổ cũng như một số tài liệu dân gian cho biết rằng, thuở thiếu thời, ông từng dùi mài kinh sử để thử vận may khoa trường, nhưng rồi chán cảnh nhân tình thế thái ngày một đen bạc, ông đã hăng hái đi theo nghĩa binh của thủ lĩnh Tế. Nhờ có nghĩa khí và văn tài, ông được thủ lĩnh Tế trọng dụng, xếp vào hàng những người thân tín nhất.

Tháng 2 năm Canh Thân (1740), Chúa Trịnh lúc đó là Trịnh Doanh đã phong cho Võ Tá Lý (người làng Hà Hoàng, huyện Thạch Hà, nay là xã Thạch Môn, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh. Lúc này, Võ Tá Lý được phong tới tước Quận công) làm Chinh Tây Đại tướng quân, đồng thời, sai cầm quân đi đánh thủ lĩnh Tế. Trong trận ác chiến ở Yên Lạc (nay thuộc huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc), thủ lĩnh Tế thua trận, Nguyễn Danh Phương liền đem tàn quân chạy về Tam Đảo để tính kế chiến đấu lâu dài. Từ đây, Nguyễn Danh Phương thực sự trở thành thủ lĩnh của một cuộc khởi nghĩa mới.

“Nguyễn Danh Phương vốn là dư đảng của Tế, chiếm núi Tam Đảo, lợi dụng địa thế hiểm trở để xây thành đắp lũy, chiêu mộ dân binh, quyên góp lương thực và rèn đúc khí giới, họp phe đảng ẩn náu trong núi rừng” (Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Chính biên, quyển 38, tờ 28).

Theo Lê Ngô Cát và Phạm Đình Toái, chốn núi rừng mà Nguyễn Danh Phương cùng nghĩa sĩ của mình ẩn náu chính là ngọn Độc Tôn Sơn trong dãy Tam Đảo (Đại Nam quốc sử diễn ca). Từ Độc Tôn Sơn, Nguyễn Danh Phương liên tục tổ chức nhiều cuộc tấn công ra các vùng chung quanh, gây chấn động khắp cả hai trấn Tuyên Quang và Hưng Hóa.

Khi mới dựng cờ khởi nghĩa, do tương quan thế và lực rất chênh lệch, Nguyễn Danh Phương chủ trương kết hợp rất chặt chẽ giữa kiên quyết với mềm mỏng. Kiên quyết là kiên quyết trừng trị đích đáng những kẻ tham quan ô lại, những đơn vị quân đội nhỏ của chúa Trịnh dám hung hăng tiến sâu vào căn cứ của nghĩa quân. Mềm dẻo là mềm dẻo trong sách lược đối phó với âm mưu đàn áp đẫm máu của triều đình. Mục tiêu của Nguyễn Danh Phương là gây tiếng vang bằng những trận đánh hiểm hóc, giành hiệu quả lớn nhất với những tổn thất nhỏ nhất. Bấy giờ, hễ gặp cơ hội thuận tiện là Nguyễn Danh Phương tấn công không khoan nhượng, nhưng nếu xét thấy điều kiện chưa cho phép thì thường là ông gửi thư giả vờ xin hàng.

“Nhiều lần (Nguyễn) Danh Phương vờ xin hàng để hoãn binh, Trịnh Doanh biết là mưu giả trá nhưng cũng đem ra bàn với bầy tôi. (Trịnh) Doanh cho rằng, việc đánh dẹp cần phải biết có lúc phải hòa hoãn. Nay trước hết là phải bàn cho rõ, giặc nào cần diệt trước, giặc nào cần dẹp sau” (Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Chính biên, quyển 38, tờ 28).

Giặc cần dẹp trước, theo Trịnh Doanh, chính là nghĩa binh của Nguyễn Tuyển, Nguyễn Cừ, Nguyễn Hữu Cầu, Hoàng Công Chất… còn như giặc có thể dẹp sau chính là nghĩa binh của Nguyễn Danh Phương. Xuất phát từ nhận định đó, Trịnh Doanh chủ trương tập trung lực lượng đàn áp Nguyễn Tuyển, Nguyễn Cừ, Nguyễn Hữu Cầu, Hoàng Công Chất, đồng thời, hạ lệnh cho Trấn thủ Sơn Tây tạm chấp nhận đề nghị xin hàng của Nguyễn Danh Phương.

  • Bất ngờ đánh vào Bạch Hạc (1744), phá vòng vây của tướng Văn Đình Ức ở Nghĩa Yên và xây căn cứ mới ở Thanh Lãnh

Tháng 11 năm 1744, lợi dụng lúc Chúa Trịnh Doanh đang phải lúng túng huy động lực lượng đối phó với nghĩa quân của Nguyễn Hữu Cầu và Hoàng Công Chất, Nguyễn Danh Phương đã táo bạo cho quân đánh chiếm Việt Trì (ở đây là tên thôn. Lúc này, thôn Việt Trì thuộc làng Bạch Hạc, huyện Bạch Hạc. Nay đất này thuộc huyện Phong Châu, tỉnh Phú Thọ) và sau đó là tung hoành khắp cả vùng Bạch Hạc. Trước đó chỉ mấy ngày, Trịnh Doanh vừa nhận được tin Trương Khuông bị Nguyễn Hữu Cầu đánh cho tơi bời ở Ngọc Lâm, kế tiếp là Đinh Văn Giai bị Nguyễn Hữu Cầu đánh cho đại bại tại Xương Giang, cho nên, rất lấy làm tức tối.

Tướng Văn Đình Ức (người làng Lạc Phố, huyện Hương Sơn, nay là huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh, đỗ Tạo sĩ (Tiến sĩ võ). Sinh ra trong một gia đình nối đời là võ quan cao cấp: ông nội là Cổn Quận công Văn Đình Nhân, chưa là Điều Quận công Văn Đình Dẫn, bản thân ông cũng được phong là Quảng Quận công. Con ông là Tạo sĩ Văn Đình Cung) lập tức được lệnh chiêu mộ thêm quân sĩ để đi bình định đất Bạch Hạc. Văn Đình Ức nắm quyền chỉ huy khoảng vài vạn quân, thanh thế rất hùng mạnh. Với quân số áp đảo như vậy, Văn Đình Ức hy vọng sẽ nhanh chóng bóp nát lực lượng của Nguyễn Danh Phương. Nhưng Văn Đình Ức đã lầm. Mới bày binh bố trận ở Nghĩa Yên (tên một làng của huyện Bạch Hạc xưa, nay thuộc huyện Phong Châu, tỉnh Phú Thọ), chưa kịp ra tay thì Nguyễn Danh Phương đã khôn khéo dùng kế nghi binh rồi nhanh chóng dẫn hết quân sĩ về chiếm cứ Thanh Lãnh (tên một làng thuộc huyện Bình Xuyên cũ, nay thuộc tỉnh Vĩnh Phúc).

Từ Thanh Lãnh, Nguyễn Danh Phương cho các tướng chia quân đi đánh hầu khắp các huyện thuộc trấn Sơn Tây cũ. Những vị trí quan trọng trong trấn này đều bị nghĩa quân Nguyễn Danh Phương chiếm giữ. Đánh giá về sai lầm của Văn Đình Ức trong trận Nghĩa Yên, sử cũ viết: “Từ đấy (Nguyễn Danh Phương) bố trí đồn lũy, chiếm cứ nơi hiểm yếu để kháng cự với triều đình. Tất cả đều do sai lầm (của Văn Đình Ức) ở trận này cả” (Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Chính biên, quyển 40, tờ 11).

Sau Văn Đình Ức, tướng Hoàng Ngũ Phúc cũng được điều đến trấn Sơn Tây, nhưng tất cả các tướng lĩnh cao cấp này của Chúa Trịnh đều bị sa lầy, suốt 4 năm trời (từ 1744 – 1748) vẫn không đánh được một trận nào đáng kể. Trước diễn biến tình hình chung ngày một phức tạp như vậy, Trịnh Doanh quyết định đưa tướng Đinh Văn Giai lên thay Hoàng Ngũ Phúc. Đinh Văn Giai được trao chức Trấn thủ và phải chịu trách nhiệm tổ chức trấn áp cho bằng được lực lượng của Nguyễn Danh Phương. Trước khi ra đi, Đinh Văn Giai được Trịnh Doanh trực tiếp giao nhiệm vụ rất rõ như sau:

“Trấn Sơn Tây là phên giậu của nước nhà, thế mà phía Bắc thì bị (Nguyễn) Danh Phương (chiếm cứ), mặt Nam thì bị (thủ lĩnh) Tương và (Lê Duy) Mật chiếm cứ, giặc mạnh tràn lan, lòng người lo sợ. Vậy cho phép ngươi được tùy ý làm việc, miễn sao ta đỡ lo nghĩ mặt Tây (kinh thành) là được” (Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Chính biên, quyển 40, tờ 29).

Tháng 9 (nhuận) năm 1748, Đinh Văn Giai đến trấn Sơn Tây nhận chức. Nhưng Đinh Văn Giai là kẻ khôn ngoan, thích sống để giữ quyền cao chức trọng, chẳng dại xông pha trận mạc quá mức để rồi có thể chết bất cứ lúc nào, bởi thế, bất đắc dĩ lắm Đinh Văn Giai mới cho quân ra đánh cho có đánh vậy thôi. Nghĩa quân Nguyễn Danh Phương nhờ đó vẫn ung dung đóng giữ ở hầu khắp các vị trí hiểm yếu của trấn Sơn Tây. Để có thêm cơ hội thuận tiện, nhằm xây dựng và củng cố lực lượng của mình, một lần nữa, Nguyễn Danh Phương lại giả vờ xin hàng. Sử cũ cho biết:

“Nguyễn Danh Phương dùng lễ vật rất hậu rồi mật sai người đến đút lót cho vợ của Chúa Trịnh là Trịnh thị (quê ở làng Thịnh Mỹ, huyện Lôi Dương, nay thuộc Thanh Hóa) và hoạn quan là Đàm Xuân Vực (người làng Tương Trúc, huyện Thanh Trì, nay thuộc Hà Nội). (Đàm) Xuân Vực giúp (Nguyễn Danh Phương) dâng tờ biểu xin hàng. Trịnh Doanh đã y cho, nhưng khi xuống lệnh triệu vào thì (Nguyễn Danh Phương) không chịu vào nhận mệnh” (Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Chính biên, quyển 41, tờ 3).

Cuối năm 1749, Nguyễn Danh Phương bất ngờ cho quân đi đánh ở huyện Tiên Phong (nay thuộc Hà Tây). Tình hình rất nguy cấp. Hiệp trấn Sơn Tây Hà Tông Huân (tức là Hà Huân (1697 – 1766), người làng Kim Vực, huyện Yên Định, nay thuộc huyện Thiệu Yên, tỉnh Thanh Hóa, trước đã đỗ Sĩ vọng, đến năm 1724 lại đỗ Bảng nhãn. Ông làm quan được thăng dần lên đến chức Thượng thư, quyền Tham tụng, hàm Thái bảo, tước Quận công) phải dâng thư chạy gấp về triều đình. Trịnh Doanh phải hạ lệnh cho các tướng Bùi Trọng Huyến (1713-?) (người làng Tiên Mộc, huyện Nông Cống, nay thuộc huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa, đỗ Tiến sĩ năm 1739) và Nguyễn Phan (người làng Hà Dương, huyện Hoằng Hóa, nay thuộc huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa, võ quan cao cấp) đưa quân đi cứu viện. Nhưng, rốt cuộc thì hàng vạn quân của chúa Trịnh, do những viên tướng được coi là tài ba nhất chỉ huy, vẫn không sao có thể đè bẹp được lực lượng của Nguyễn Danh Phương.

  • Đặt đại bản doanh ở Ngọc Bội, thành lập chính quyền và anh dũng chống trả cuộc đàn áp do đích thân Trịnh Doanh chỉ huy

Từ cuối tháng 9 (nhuận) năm 1748, sau khi từ chối về triều, Nguyễn Danh Phương bắt đầu tiến hành xây dựng một hệ thống căn cứ mới. Đại bản doanh của Nguyễn Danh Phương đặt tại núi Ngọc Bội (tên dãy núi nằm tiếp giáp giữa hai huyện Tam Dương và Bình Xuyên xưa của Sơn Tây, nay cả hai huyện này đều thuộc tỉnh Vĩnh Phúc). Ông cho gọi đó là Đại Đồn. Tại Đại Đồn, Nguyễn Danh Phương cho xây thành lũy kiên cố, đồng thời, bước đầu xây dựng chính quyền riêng. Theo mô tả của sử cũ thì: “Nguyễn Danh Phương xưng là Thuận Thiên Khải Vận Đại nhân, lập cung điện, đặt quan chức, quy định cờ quạt, xe cộ và đồ dùng, tiếm lạm ngang với Thiên Tử” (Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Chính biên, quyển 41, tờ 3).

Phía ngoài, cách Đại Đồn không xa là đồn Hương Canh (tên làng thuộc huyện Yên Lãng xưa, nay thuộc tỉnh Vĩnh Phúc). Đồn Hương Canh được gọi là Trung Đồn. Tuy không lớn và kiên cố bằng Đại Đồn, nhưng, Trung Đồn cũng được xây dựng khá chắc chắn. Và phía ngoài Trung Đồn, tại khu vực Úc Kỳ (tên làng, xưa thuộc huyện Tư Nông, nay thuộc tỉnh Thái Nguyên), Nguyễn Danh Phương còn cho xây dựng thêm một hệ thống đồn lũy khác, gọi là Ngoại Đồn. Đại Đồn, Trung Đồn và Ngoại Đồn phối hợp rất chặt chẽ với nhau, sẵn sàng ứng phó một cách linh hoạt với mọi cuộc tấn công từ ngoài vào. Nguyễn Danh Phương cũng cho xây dựng rất nhiều đồn lũy ở các địa phương khác, tính ra, tổng số còn lớn gấp đôi Đại Đồn, Trung Đồn và Ngoại Đồn cộng lại. Theo ghi chép của sử cũ thì:

“Quân đóng ở đâu là làm ruộng, chứa thóc để làm kế lâu dài. (Nguyễn Danh Phương) lại còn tự tiện giữ mối lợi về sản xuất và buôn bán chè, sơn, tre, gỗ… ở miền thượng du, chưa kể xưởng khai thác mỏ ở Tuyên Quang, do đó mà thóc gạo và của báu chất cao như núi. Hắn (chỉ Nguyễn Danh Phương – NKT) chia quân đóng giữ những nơi hiểm yếu để chống lại quan quân. Triều đình bao phen cất quân đánh, nhưng hắn lại đem của đến đút lót, mà các tướng thì hám lợi, cứ dung túng cho giặc (chỉ nghĩa quân Nguyễn Danh Phương – NKT), cốt bảo toàn lấy tấm thân, vì thế, giặc càng ngày càng vững vàng. Trải hơn 10 năm trời, (Nguyễn) Danh Phương nghiễm nhiên là vua một nước đối địch với triều đình vậy” (Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Chính biên, quyển 41, tờ 3 và 4).

Tháng 12 năm 1750, các đạo quân của Chúa Trịnh phối hợp đánh mạnh vào lực lượng của Nguyễn Danh Phương ở khu vực Thanh Lãnh. Bấy giờ, khu vực này do hai người em của Nguyễn Danh Phương là Nguyễn Văn Bì và Nguyễn Văn Quảng trông coi. Bởi quá bất ngờ, cả Nguyên Văn Bì và Nguyễn Văn Quảng đều bị bắt. Nhưng, quan quân của họ Trịnh chưa kịp vui mừng thì Nguyễn Danh Phương đã kịp thời đem binh sĩ tới. Từ chỗ chủ động đi tấn công và bao vây, các tướng lĩnh của Chúa Trịnh buộc phải lâm vào thế bị tấn công, bị bao vây và có nguy cơ bị tiêu diệt hết. Chúng bèn thả Nguyễn Văn Bì và Nguyễn Văn Quảng để đổi lại là được tháo lui.

Trong hình ảnh có thể có: món ăn

Bảng khen Trung Nghĩa Dân cho ba làng Hương Canh- Ngọc Canh- Tiên Hường chống  Quận Hẻo

Sau trận Thanh Lãnh, Nguyễn Danh Phương mở rộng phạm vi hoạt động của nghĩa quân ra nhiều vùng lân cận. “Các huyện thuộc những phủ như Tam Đái, Lâm Thao và Đà Dương đều bị (Nguyễn Danh) Phương chiếm cứ” (Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Chính biên, quyển 41, tờ 4. Các phủ Tam Đái, Lâm Thao và Đà Dương nay thuộc các tỉnh Phú Thọ, Vĩnh Phúc và Hà Tây). Lo sợ trước sự phát triển mạnh mẽ của nghĩa quân, Trịnh Doanh đã tự mình làm tướng, đem đại binh đi đánh dẹp. Trước khi xuất quân, Hoàng Ngũ Phúc và Đỗ Thế Giai (người làng Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, nay thuộc huyện Từ Liêm, Hà Nội), tuy chỉ đỗ có Hương cống, sau đổi gọi là Cử nhân, nhưng rất có thế lực trong triều đình) cùng phối hợp với nhau, soạn ra 37 điều quân lệnh buộc tất cả tướng sĩ phải tuân thủ một cách nghiêm ngặt. Trịnh Doanh cũng thành lập một bộ chỉ huy hành quân, theo đó thì ngoài Trịnh Doanh ra, bộ chỉ huy này còn có:

  1. Hoàng Ngũ Phúc làm Giám quân.
  2. Nguyễn Nghiễm (1708 – 1775) (người làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, nay là xã Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, đỗ Hoàng Giáp năm 1731. Ông là cha của Tiến sĩ Nguyễn Khản và thi hào Nguyễn Du) làm Tán lý.
  3. Đoàn Chú làm Hiệp đồng.

Tất cả quân sĩ được chia làm bốn đạo, tiến thẳng vào khu căn cứ của Nguyễn Danh Phương. Nhưng, Trịnh Doanh cũng chẳng thể làm được gì hơn các tướng trước đó. Trải một năm chinh chiến gian nan mà chẳng thu được kết quả gì, Trịnh Doanh đành phải kéo quân về.

  • Mất Úc Kỳ và Hương Canh, Ngọc Bội Đại Đồn tan vỡ, Nguyễn Danh Phương thua trận và bị bắt (1751)

Hao công tốn của mà không diệt được nghĩa quân Nguyễn Danh Phương, Trịnh Doanh tuy buộc phải kéo quân về nhưng lòng vẫn rất lấy làm ấm ức. Sau Tết Nguyên đán năm Tân Mùi (1751), một lần nữa, Trịnh Doanh lại cầm đại quân đi đánh Nguyễn Danh Phương. Lần này, để tạo bất ngờ lớn, Trịnh Doanh cho quân băng qua Kinh Bắc (vùng Bắc Ninh và Bắc Giang ngày nay), tiến thẳng đến Thái Nguyên rồi từ Thái Nguyên đánh ập xuống.

Tháng 2 năm 1751, Trịnh Doanh thúc quân, nhân đêm tối, đánh ồ ạt vào Ngoại Đồn Úc Kỳ. Do hoàn toàn bị bất ngờ, Ngoại Đồn Úc Kỳ không sao chống đỡ nổi. Toàn bộ lực lượng nghĩa quân Nguyễn Danh Phương đóng ở đây bị diệt. Trịnh Doanh lập tức hạ lệnh cho các tướng đánh thẳng đến Trung Đồn Hương Canh. Tại đây, lực lượng nghĩa quân của Nguyễn Danh Phương do đã biết Ngoại Đồn Úc Kỳ thất thủ nên chủ động đánh trả rất quyết liệt. Một trận ác chiến thực sự đã diễn ra. Sử cũ viết:

“Giặc (chỉ nghĩa quân Nguyễn Danh Phương – NKT) đem hết quân ra chống cự, tên đạn bay như mưa, quan quân không sao tiến lên được. Bấy giờ, trong hàng tướng lĩnh của Chúa Trịnh chỉ có Nguyễn Phan được coi là vô địch. Trịnh Doanh trao thanh gươm cho Nguyễn Phan và nói:

– Nếu không phá được đồn này thì lập tức sẽ bị đem ra xử theo đúng quân pháp.

(Nguyễn) Phan dẫn quân tiến lên, cởi chiến bào, bỏ ngựa đi chân đất. Trước khi xông ra, y ngoảnh lại nói với thủ hạ của mình rằng:

– Quân sĩ đã có tên trong sổ, tất phải biết giữ quân pháp. Các ngươi đều là tôi tớ của ta, nay chính là lúc ta liều mình đền nợ nước, cũng chính là lúc các ngươi có dịp đền ơn ta. Vậy, những ai có cha mẹ già hoặc con thơ, không nỡ dứt tình riêng thì ta cho lui ra, còn thì hãy cùng ta quyết liều mình vì nước, chẳng nên sống uổng một kiếp mày râu.

Mọi người nghe lời (Nguyễn) Phan nói, không ai chịu lùi. (Nguyễn) Phan tự xông lên trước quân sĩ, cố sức đánh, phá tan được (đồn Hương Canh).

(Nguyễn) Danh Phương thu nhặt tàn quân, lui về giữ Đại Đồn Ngọc Bội. Ngọc Bội là sào huyệt của giặc, thế núi cao chót vót rất hiểm trở. Ở đây, giặc đã lấp hết các cửa ngõ và đường tắt từ trước, lại còn bố trí súng ở trên núi cao để cố thủ. Trịnh Doanh lại sai (Nguyễn) Phan tiến đánh. (Nguyễn) Phan sai quân cầm gươm giáo, cho phép ai cũng được tự ý đâm chém, đồng thời hạ lệnh rằng, hễ nghe tiếng súng nổ thì nằm phục xuống, bằng không thì phải trèo lên núi đá mà tiến. (Nguyễn) Phan đem quân tiến trước, ba quân ồ ạt theo sau, quân sĩ tràn lên núi, xa trông cứ như một đàn kiến. Giặc tan vỡ. (Nguyễn) Danh Phương chạy về Độc Tôn Sơn. Quan quân lại đuổi tiếp, (Nguyễn) Danh Phương thua trận, đành phải đốt đồn lũy rồi nhân đêm tối chạy trốn.

Quan quân đuổi theo, bắt được (Nguyễn) Danh Phương tại làng Tĩnh Luyện, huyện Lập Thạch (nay thuộc huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc)” (Khâm định Việt sử thông giám cương mục (Chính biên, quyển 41, tờ 7 và 8 ).

Sau hơn 10 năm chiến đấu ngoan cường và thông minh, đến đây, cuộc khởi nghĩa do Nguyễn Danh Phương lãnh đạo đã bị đè bẹp. Nguyễn Danh Phương bị bắt và bị giết cùng một ngày với Nguyễn Hữu Cầu.

Nguyễn Danh Phương là một trong những danh tướng xuất thân áo vải lừng danh nhất Đàng Ngoài. Cuộc đời oanh liệt của ông đã khiến cho không biết bao nhiêu tướng lĩnh cao cấp của Đàng Ngoài phải thất điên bát đảo. Ông chưa từng được học ở bất cứ một trường võ bị nào, nhưng, tài năng quân sự của ông thì các võ quan chuyên nghiệp đương thời chưa dễ đã sánh được. Nói khác hơn, ông chính là tướng tài trong số những tướng tài vậy.

Nguồn: Danh tướng Việt Nam – Tập 3 / Nguyễn Khắc Thuần.-H.: Giáo dục, 2005.

ĐÌNH LÀNG XỨ ĐOÀI – NHỮNG ĐIỀU CÒN – MẤT

THÀNH HOÀNG & ĐÌNH LÀNG VIỆT NAM

THÀNH HOÀNG THẦN —— 城 隍 神
(Tư liệu của cụ Hoàng Đình Đá, TNĐ đánh máy lại.)

Nguồn gốc tên chữ THÀNH HOÀNG:
Sách ‘Trung Quốc Thần bí Văn hóa’ viết: “Thành hoàng (城隍)tức là Thành Hào(城壕), cái thành và cái hào bao vây bên ngoài thành. Cái hào ấy có nước gọi là Trì(池), Thành vào Hào có nước gọi là Thành Trì(城池).
Cái hào cạn không có nước gọi là Hoàng(隍), cái thành có hào cạn bao quanh gọi là Thành Hoàng(城隍), đắp đất làm thành, đào hào làm hoàng.
Thời cổ người Trung Quốc đã thờ thành hoàng mà theo họ là Thành Hoàng Thần là vị thần bảo vệ che chở cho cái thành, cùng với quan quân và dân chúng ở trong cái thành ấy.
Sách Giao Châu Ký, thời Bắc Thuộc, năm 823 viên quan cai trị người Trung Hoa là Lý Nguyên Gia xây La Thành, đã theo tục thờ thành hoàng của người Trung Hoa dựng đền thờ ông Tô Lịch, một vị hào trưởng người Việt có nhiều công lao với nhân dân, khi qua đời được dân dân cúng tế làm thành hoàng của La Thành. Năm 866 Cao Biền, viên quan cai trị người Trung Quốc xây lại thành Đại La to và rộng hơn để yểm bùa trấn áp thần Long Đỗ bị thần dùng sấm sét phá tan, Cao Biền phải lập đền thờ.

Khi Lý Thái Tổ dời đô ra Thăng Long cho đắp thành Thăng Long cho đắp thành nhiều lần đều bị đổ, vua cho người cầu khẩn ở đền này chợt thấy một con ngựa trắng từ đền đi ra. Vua cho lần theo vết chân ngựa vẽ đồ án xây thành mới đứng vững. Vua cho sửa sang đền gọi là Đền Bạch Mã (nay ở phố Hàng Buồm- Hà Nội) và phong cho thần làm thành hoàng kinh thành Thăng Long. Như vậy, thành Thăng Long có hai vị thành hoàng là Tô Lịch và Long Đỗ (Long Đỗ là thần núi Long Đỗ còn gọi là Núi Nùng)

Đình Ngọc Canh (Hương Canh, Vĩnh Phúc)

Làng xã Việt Nam vốn không có thành, không có hào. Người Việt Nam ở làng xã có tín ngưỡng thờ các thần núi, thần đất, thần sông, các nhân thần được tôn sùng v.v…sau đó kết hợp với việc thờ thần Thành hoàng do phong kiến phương Bắc đưa vào mà áp dụng theo, trở thành tín ngưỡng thờ Thành Hoàng của làng xã.
Theo sách ‘Việt Điện U Linh’ và ‘Lĩnh Nam chích quái’ thì đời Trần đã phong sắc cho 25 vị thần. Đến đời Lê, triều đình đã thể hiện sự thống nhất uy quyền đến tận làng xã nên đã sắc phong cho các thần thờ ở làng làm Thành hoàng làng theo cấp bậc. Việc vua sắc phong cho thành hoàng các làng biểu lộ rõ ràng Vua là đấng tối cao của cả nước.
Thành Hoàng thần là chủ tể cho một làng, về mặt tinh thần mà dân vẫn thờ, phải chịu sắc phong của vua ban tức là dưới vua, vậy uy quyền của vua rất lớn. Dân làng đã quy phục uy quyền Thành Hoàng, tất nhiên phải quy phục trước uy quyền của vua.
Thần quyền (神權) phục vụ cho Quân quyền (君權) đó là sự kết hợp chặt chẽ dưới chế độ phong kiến ở nước ta.
Bộ Lễ của triều đình xét đề nghị phong sắc cho Thành hoàng theo hai tiêu chuẩn:
– Phò vua, bảo vệ tổ quốc, khi còn sống đánh giặc giữ nước. Hoặc khi sống tuy không tham gia đánh giặc giữ nước nhưng khi chết ngầm giúp vua, quan quân đánh giặc (Âm Phù). Đó là tiêu chuẩn HỘ QUỐC.
– Giúp dân làng làm ăn phát đạt và che chở cho nhân dân qua khỏi tai họa đó là tiêu chuẩn TÝ DÂN
Riêng với các làng đã thờ các vua triều trước làm thành hoàng như vua Lê Đại Hành, vua Lý Thái Tổ…. thì các vua triều sau không được quyền phong sắc. (Cần khảo cứu tư liệu thêm ý này- TNĐ)

Sắc phong敕封 của vua cho thành hoàng có 3 cấp:

+上等神 – THƯỢNG ĐẲNG THẦN
+ 中等神 TRUNG ĐẲNG THẦN
+ 下等神 HẠ ĐẲNG THẦN

ĐÌNH:
Thành hoàng thờ ở Đình hoặc ngày thường thờ ở Đền, Miếu nhưng đến khi lễ lớn thì rước thần ra đình để tế lễ. Nói chung Đình thường chọn ngoảnh về hướng Nam:
+ Vua cai quản cả nước ngồi trên ngai nhìn về hướng Nam vì hướng Nam trên đất liền là phần Dương (陽) – Thiên tử đương dương-天子當陽
+ Thành hoàng thần cai quản về mặt tinh thần, tâm linh cho cả một làng, một xã nên Đình cũng quay về Hướng Nam thuộc phần Dương.
Tuy nhiên, muốn cho nơi thờ thần được linh thiêng thì phải có phối hợp cả Dương và Âm (陰).
+ Đối với sông nước ao hồ ngòi lạch thì ở phía Nam lại thuộc phần âm. Vì vậy trước hướng đình thuộc phía Nam thường là sông ngòi. Nếu nơi không có sông thì phải đào ao hồ tạo phần âm. Cùng lắm nơi nào không đào được ao hồ thì cũng phải có một cái giếng.
Hướng của Đình rất được coi trọng. Theo nhận thức của người xưa nếu đặt hướng đình đúng thì dân thịnh vượng,nếu đặt sai thì cuộc sống dân cư khó khăn.

Ca dao xưa có câu:
“Toét mắt là tại hướng đình
Cả làng toét mắt chứ mình em đâu”

Các đình thường được ghi ngày tháng khởi công xây dựng và hoàn thành ở xà nóc hoặc hai câu đầu nhà đại bái hay tiền tế. Số chữ ghi trên xà nóc liên hệ chặt chẽ với 4 chữ viết theo thứ tự” SINH- LÃO- BỆNH- TỬ – 生老病死” và theo quy ước “Gia Sinh- Đình Lão” Tức là số chữ ghi trên xà nóc phải là bội số của 4 (sinh, lão, bệnh, tử) nếu còn thừa một chữ là vào chữ sinh, còn thừa hai chữ vào chữ lão.

Vì dụ: Số chữ viết trên xà nóc là 18 hoặc 22 thì ứng với chữ LÃO.
Đình ứng với chữ Lão, nhà tư thì ứng với chữ Sinh là như thế!

Tư liệu dạy học của cụ Hoàng Đình Đá (1928-2012), thầy giáo dạy chữ Nho làng Ninh Hiệp.
Ảnh: Đình Ngọc Canh . (Tg: Trần Hồng Trường)

Đình Ngọc Canh

CỔNG XÓM LÒ NGÓI- XƯA VÀ NAY

14702447_10205857610038231_1980134384819826687_n

Cổng cũ Xóm Lò Ngói năm 1995-Hiệu ảnh Sông Cầu chụp trước  khi phá dỡ để xây cổng mới

14725451_10205857618478442_3737554616212383749_n

Cổng xóm Lò Ngói năm 2011- Ảnh do ông Nguyễn Hữu Dự (1930-2012) thuê thợ chụp

14883520_1300800343287643_3391886206999083595_o

Cổng Lò Ngói-2016

 

 

14856023_1300800283287649_7049042492200910471_o

LÀNG GỐM HƯƠNG CANH- MỘT THỜI CHƯA XA

Lò Cang là một xóm ven sông của làng Cánh nay là Thị trấn Hương Canh,Vĩnh Phúc. Xưa kia, cả xóm chuyên nghề làm Cang, Chĩnh, Tiểu sành cho nên cái tên Lò Cang cũng từ ấy mà nên.
Trải qua bao thăng trầm của nghề làm Gốm từ lúc rực rỡ đến thuở tàn phai để rồi đến hôm nay không còn mấy người giữ nghề truyền thống, nhà cửa ngõ xóm đã đổi thay khiến ít người còn nhận ra nét đặc trưng của xóm gốm khi xưa.

Rồi mai kia, chỉ dám mong rằng “Gốm Hương Canh” vẫn sẽ còn lại cái tên để còn được nhắn nhủ cho người hoài cổ:

“Ai về mua vại Hương Canh
Cho mai lấy trúc, cho anh lấy nàng”

Nguồn: https://www.facebook.com/tran.anhdung.589/media_set?set=a.1300216083346069.1073743306.100000730680028&type=3

Tác giả : Trần Anh Dũng

14859709_1300216383346039_4188219060566293243_o

Ngõ trong xóm

14608837_1300216406679370_2297818035132393809_o

14589985_1300219090012435_8022934494743624248_o

Tường xây bằng tiểu hỏng

14692019_1300217280012616_7935305314864674497_o

Tường bằng mảnh 

14883609_1300218996679111_8467115411709779519_o

Đầu hồi nhà

14876569_1300216210012723_6842580974217604524_o

Dòng sông Cánh đoạn qua Lò Cang

 

14610908_1300217766679234_7994495489421479618_n

Bến sông

14633122_1300216260012718_952799585789684047_o

Chùa Ma Hồng

14633296_1300216200012724_3407028859461871068_o

14856150_1300216216679389_3568227478317084102_o

Cái lò ngói

14884608_1300216323346045_7450589067601180697_o

Nhà ông Bóng

14572996_1300233060011038_1698653505912792933_n

Xưa và nay

14859846_1300216316679379_2660494820381708823_o

Anh Giang Anh

14633476_1300216310012713_6311421156810195962_o

Sử dụng bập vân trang trí gốm

14876546_1300216346679376_3498927903720180085_o

Lăn đòn

14882224_1300217126679298_3835487785171930083_o

14883463_1300216410012703_3183214225379349040_o

Ông Nguyễn Văn Thanh

14882126_1300217086679302_951880509075757391_o14876567_1300217190012625_1880427861649494977_o

 

The rustic pottery art of Hương Canh

The rustic pottery art of Hương Canh

Nguồn:

http://vovworld.vn/en-US/Sunday-Show/The-rustic-pottery-art-of-Huong-Canh/478420.vov

(VOVworld) – For centuries, the Vietnamese people have had a folk saying: “Móng Cái porcelain, Hương Canh jars”, to compliment two of the best-quality terracotta brands in the northern region. Ceramic products made by Hương Canh artisans are famous for their outstanding durability, and their ability to waterproof and block out light, which help fully preserve the food inside for years.

Hương Canh is an old ceramic and pottery craft village located in Bình Xuyên district in Vĩnh Phúc province. The village is known for its rustic line of products, including pans, pots and cups, which are very strong and practically made to serve the essentials needs of rural life. According to the elderly, Hương Canh villagers might have been making ceramic products for more than 300 years. However, where the craftsmanship actually came from is still a matter for debate.

 the rustic pottery art of huong canh hinh 0
Hương Canh pottery products are made from the typical local clay of green color, which turns into dark reddish brown under high temperatures.(Photo: laodong.com.vn)
Trần Ngọc Lâm, a Hương Canh citizen who has spent several years tracing its history, offered his view: “The pottery craft in Hương Canh actually originated from Thủ Hà crafting village in Bắc Giang province. Every year during the dry season, pottery traders went upstream on the Cầu river, which also runs through Vinh Phúc province, to sell their products. They usually took a rest in our riverside village and eventually passed on the craftsmanship skills to the local people. Now you can still find many ceramic or terracotta pieces alongside the riverbanks.”

Hương Canh pottery products are made from the typical local clay, taken from a depth of 8 meters below the ground. The clay soil has a special green color which turns into dark reddish brown under high temperatures. Yet, the most distinguishing feature of Hương Canh’s green clay lies in its ability to shrink at high heat.

 the rustic pottery art of huong canh hinh 1
Artisan Trần Văn Hải is the fourth generation in his family to produce pottery products and the only artisan who knows how to build a hand-built kiln in his village. (Photo: laodong.com.vn)

Artisan Trần Văn Hải, 62 years old, is the owner of Hải Ất ceramic company, one of the four remaining families that produce pottery products in Hương Canh village. Hải learnt how to make terracotta goods from his parents at the young age but it took him decades to master the unique structure of Hương Canh soil. He said:“Inside the kiln, Hương Canh clay can shrink up to 26% while it’s only up to 13% in all other villages in Vietnam. We call this typical characteristic of our soil the ‘fat element’. Because of the chance that raw products shrink is so high, it’s very hard for us to calculate the design and the size of the final products.  However, because the ‘fat element’ will vanish under high heat,  the clay actually gets tighter and helps our jars and pots to remain more durable and harder than other ceramic  products.”

Thái Nhật Minh is a sculptor who has experienced arts with a diverse range of materials, including the green clay of Hương Canh. He said the soil here is one of the most difficult materials he has worked with so far in his 10-year career:“The green raw clay will turn dark after being furnaced and you cannot apply any glaze to it. Without the overall glaze, Hương Canh products are very limited in creation and innovation. And you never know how the products look like before coming out of the kiln.  A big pot can shrink by as much as half its size. However, the unique characteristic of Hương Canh make its products much more durable and can be used for many, many years, even for centuries.”

 the rustic pottery art of huong canh hinh 2
Sculptor Thái Nhật Minh is currently experimenting his works with Hương Canh clay material. (Photo: Six Space)

Trần Ngọc Lâm said it is the rustic color and rough surface that creates the original and authentic beauty of the crafted products:“Any pottery product with glaze is not made by Hương Canh villagers. Under the heat of up to 1,200 DC, the clay melts and blends together to create a shiny outlook in the final products.” 

 the rustic pottery art of huong canh hinh 3
The making of a Hương Canh pottery product (Photo: Six Space)

To make high-quality products, Hương Canh’s artisans must obey particular technical requirements, especially regarding the kiln and the furnacing. Unlike those in other famous Vietnamese ceramic crafting villages, a typical furnace in Hương Canh can only create a one-way flame and pottery makers actually use of the fans inside the kiln to direct the flame.

According to artisan Trần Văn Hải, controlling the fire is tricky as you can easily burn one side while the other side is still raw. Raising the heat before the right moment can create bubbles on the surface of the pots whereas if you are keep a low heat for even a minute too long, the clay will never be ‘cooked’ thoroughly. He said:“The firing formula must accord to the clay’s characteristics. It took me as long as 36 hours to complete firing a batch of the products, followed by 2 days to cool them down totally. In the first 28 hours, we maintain the temperatures inside the kiln at a steady 500 DC, and raise the temperatures to 850 DC over the next 6 hours and for the last 2 hours the heat must be kept at around 1,200-1,300 DC. But that also depends on the weather; we have different firing methods for different conditions in summer and winter. Hương Canh pottery products may be sold at higher prices but we have to put much more effort into making it.”

 the rustic pottery art of huong canh hinh 4
Artisan Hải has tried many other firing formulas and kilns on Hương Canh terracotta products but all failed since none of them can reach to the required temperatures of over 1,000 DC. (Photo: laodong.com.vn)

Hải has tried many other firing formulas and kilns on Hương Canh terracotta products to ease the hard work but all failed since none of them can reach to the required temperatures of over 1,000 DC: “With other clay materials from other provinces, any kiln can work perfectly. In Hương Canh, the kiln must be built to the exact dimensions of 1m wide and 2m high, while the slope level must be at 57%. But that’s not all. Since our kiln only creates a one-way flame, we need to build the interior fan system into high degree of accuracy so that we can flip the flame in multiple ways. We even named every part of the fan such as quạt vả, vắt khăn, cây đèn and so son to make it easier to custom the fire.”

Hương Canh village’s pottery craft has stood the test of time. Today, this traditional pottery line is facing harsh competition from plastic products and products from other villages. However, Hương Canh terracotta has established a good reputation. Sculptor Thái Nhật Minh said:“Hương Canh products are now sold well and at higher prices because not many villagers are making pottery. The best-selling products are the small jars for families to make pickles, especially during the end of the year. Traditionally, jars are supposed to be buried under the earth and thus what they need is not a beautiful look but strength and durability, to which Hương Canh products are best suited.”

 the rustic pottery art of huong canh hinh 5
While preserving traditional values, Hương Canh artisans have innovated the products’ shapes, improved their techniques, and expanded the product range to meet the needs and preferences of buyers. (Photo: VOV/Dieu Ha)

Pottery craftsmanship in Hương Canh village is a historic cultural heritage of Vietnam. While preserving traditional values, Hương Canh artisans have restlessly innovated the products’ shapes, improved their techniques, and expanded the product range to meet the needs and preferences of buyers. Today, not only does the pottery work provide artisans with a stable income, but it has also turned Hương Canh village into a famous tourist destination where visitors can observe and participate in pottery production.

 

NGHỆ THUẬT HOÀNH TRÁNG ĐÌNH HƯƠNG CANH

NGHỆ THUẬT HOÀNH TRÁNG ĐÌNH HƯƠNG CANH

Nguồn: http://mythuatms.com/hoc-ve-dieu-khac-moi-truong-phan-2-muc-viii-d1219.html

VIII. NGHỆ THUẬT HOÀNH TRÁNG ĐÌNH HƯƠNG CANH

Đình Hương Canh xây dựng từ thời Lê Cảnh Hưng (1740-1786). Đình thờ hai vị tướng Ngô Xương Văn và Ngô Xương Ngập (con của Ngô Quyền) đã có công đánh đuổi quân Nam Hán.

Điều đặc sắc nhất của đình Hương Canh là chính chân rồng trong hợp thể hội làng.

Khong gian tong the dinh Huong Canh 1

Chủ đề hội làng là một chủ đề chính được biểu đạt bằng điêu khắc hoành tráng có giá trị nhất trong các đình làng của xứ Đoài.

Thượng cung của đình (cửa võng – gian thờ) chuyển động thành nhiều lớp không gian từ nóc (giáp thượng lương) chạy xuống tới hương án, phần trên cũng là một lớp ván trải rộng (trong phạm vi khung bốn cột cái gian giữa) gồm có bốn đèn trời ở bốn góc và một ngọn đèn ở giữa gây cho ta một biểu tượng về quan niệm: kim, mộc, thủy, hỏa, thổ mà các cụ già làng vẫn thường nói đến.

Dưới hai lớp diềm là chân dung rồng trong hợp thể hội làng. Kỹ thuật chạm lộng được hình dung đầy đủ về chủ đề nghệ thuật và được tách ra làm đôi tạo khả năng thể hiện, lắp ghép được dễ dàng. Bức chân dung hai rồng (rồng đôi) một phần lẫn sau bức diềm chạm thủng, tạo không gian sâu kín để rồi bật ra tiếng nói chính diện của nghệ thuật. Ở vị trí trung tâm, chân dung rồng đôi choáng ngợp một không gian rất lớn, đao lửa, râu rồng phát triển sang hai bên có sức va đập rất mạnh tạo cho người xem một tinh thần vui vẻ, hóm hỉnh, thoải mái, dễ chịu, để rồi từ đao lửa râu rồng hiện dần lên những dáng điệu dịu dàng, sinh động hòa nhập với điệu múa và buổi tấu nhạc của tiên. Không khí vũ hội, tấu nhạc của tiên cứ phát triển dần theo từng tầng từng lớp của râu rồng, đao hỏa mà lan tỏa sang hai bên và phía trước.

Chân dung rồng đôi rất đồ sộ về hình khối và chiếm cứ một không gian lớn, một vị trí trung tâm của bức chạm, nhưng nó không gây cho chúng ta một cảm giác tức tối, khó chịu mà vẫn tạo được hợp lý trong bố cục về mặt thể hiện và xử lý nghệ thuật. Dưới tầng chạm lộng của những đao lửa, râu rồng đã cho ta một hình rồng đang chuyển động một cách trọn vẹn và đầy đủ phần chính, phần phụ, thoáng nhìn tưởng chừng như vô lý mà lại hợp lý. Vì sao có được hiệu quả nghệ thuật đó?

Phia truoc dinh Huong Canh

Phía trước Đình Hương Canh

Khi ta nhìn thoáng tưởng chừng như không hợp lý vì trong một bố cục chân dung rồng đôi nằm choán hết cả bố cục của bức phù điêu lấn át cả không gian, hình khối của tiên múa, tiên tấu nhạc, làm cho người xem thấy chật chội. Nhưng nhìn kỹ ta thấy các thành phần phụ như vũ hội, tấu nhạc của tiên cùng với râu rồng, đao lửa ăn nhập với nét mặt vui vẻ, hóm hỉnh của chân dung rồng đôi để tạo ra một sự lan tỏa về không gian nghệ thuật. Chân dung rồng đôi đã được chạm lộng giải quyết hợp lý bằng nhiều tầng, nhiều lớp để rồi cho ta một hình dung đầy đủ về toàn bộ đối tượng được miêu tả.

Cua vong dinh Huong Canh

Cửa võng Đình Hương Canh

Ở đây có những chi tiết hóm hình rất có duyên như cảnh rồng con đậu trên râu rồng mẹ đang nhoẻn miệng cười thích thú.

Hợp thể rồng đôi và hội làng tiên múa, tiên tấu nhạc lại bắt nhập với tầng dưới của cửa ba võng có bốn cột rồng quấn được tỏa sâu vào chín lớp rồng ở mỗi cửa và theo thể thức cột rồng quấn phía ngoài có con sấu, con nghê chầu nhau.

Chân dung rồng đôi trong hợp thể hội làng với các lớp rồng ở ba cửa là chủ đề chính của thượng cung. Ở đây được sơn son thếp vàng lộng lẫy. Dưới ba cửa võng là hương án, từ đây những ngọn nến sáng lấp loáng và hương khói tỏa hắt lên bề mặt các lớp sơn son thếp vàng càng tạo cho thượng cung một không khí đầy vẻ “linh thiêng”. Ánh sáng nến mờ dần nhập cùng với hương khói lan tới năm ngọn đèn sát nóc tạo khung cảnh mây trời ban đêm của các  vì sao.

Từ thượng cung nghệ thuật hoành tráng lan tỏa sang hai bên và phía trước.

Chân dung rồng trong hợp cảnh hội làng (nằm ở vị trí giữa xà thượng và xà hạ, chái bên phải) được bố cục trong một hình tam giác, không hoàn toàn vuông vức. Bức chạm khắc nói lên chủ đề chính: chân dung rồng trong ngày hội làng – đó là một chân dung rồng giàu sắc thái hội lễ: vui tươi hóm hỉnh, nghịch ngợm thỏa chí, được biểu hiện một tai cụp, một tai vểnh, đôi mắt nheo nheo, mũi phồng to. Chân dung được đặt trong mối tổng hòa của nhiều không gian hội làng với nhiều đối tượng miêu tả khác nhau; phía trên cùng là cảnh bơi chải được chạm nông làm ta liên tưởng đến những tay đua chải trên đầm Vạc (Tam Đảo) hay làng Me (Yên Lập), rồi chuyển qua một không gian khác, bốn cô tiên đùa nghịch, kéo tay nhau, ngả vào nhau – Nghệ sĩ nắm bắt hiện thực với những điểm nhấn cần thiết mà bỏ qua những chi tiết thừa để làm rõ trạng thái kéo tay nghịch ngợm ngã vào nhau nên không cần diễn tả mặt tiên (tiên không có đầu chỉ thấy hình dáng của thân, tay và chân) tiếp nữa lại chuyển qua một không gian khác, tiên cưỡi rồng đi xem hội và cuối cùng là tiên ngồi trên lưng rồng cùng với các rồng con để xem hội.

Rong me con dinh Huong Canh

Hòa với cảnh hội làng bơi thuyền, tiên đùa nghịch, tiên cưỡi rồng đi xem hội, tiên và rồng con ngồi trên râu rồng mẹ cùng xem hội là cảnh sấu hòa rồng được tạo dựng bằng bản thân quốc hoành. Sấu lộn ngược như làm xiếc: đầu hóa rồng lộn xuống, thân và guốc hoành, hai chân trước chống xuống, hai chân sau cố đạp lên đỡ lấy guốc hoành. Sấu hóa rồng trong tư thế làm xiếc rất phù hợp với nội dung của ngày hội làm cho bức chạm có cái gì ngộ nghĩnh, vui vui. Bức chạm đã tạo ra một không gian chung có chủ đề rõ ràng: chân dung rồng trong mối tổng hòa với hội làng. Ở đây hội làng được tái hiện với nhiều diện mạo, nhiều khung cảnh của không gian: chèo thuyền, đùa nghịch, cưỡi rồng đi xem hội, làm xiếc, ngồi xem hội tất cả đều hợp thành một không gian lớn với một chủ đề chung rồng và hội làng. Chân dung rồng đơn, hội làng này lại bắt nhập với một không gian hội làng lớn hơn và hòa nhập vào những chân dung rồng đơn hay chân dung rồng đôi khác chạy suốt trên xà dọc từ đầu hồi bên phải sang đầu hồi bên trái. Ở đây xà dọc hạ và xà dọc thượng đứng ra làm khung đỡ cho các bức chạm, chúng được cắt bởi các cột để tạo nhịp điệu cho cả giải phù điêu.

Ban tho

Ban thờ bày ở gian lòng thuyền (trục thần đạo)

Kỹ thuật chạm lộng được biểu hiện cụ thể: rồng và tiên, nghệ sĩ đã sử dụng phương pháp tạo hình thành nhiều tầng, nhiều lớp thành một hợp thể không gian có chiều sâu. Mặt khác, nghệ sĩ cũng sử dụng nhiều lối chạm để nâng hiệu quả của nghệ thuật bằng cách đối sánh công kênh nhau. Cảnh bơi chải được chạm nông, tiên đùa nghịch, tiên cưỡi rồng thì chạm lộng để tạo sức chuyển động cho nghệ thuật trong mối tương quan của hai phương pháp chạm nông và chạm lộng. Ngay đối với chân dung rồng mẹ một phần được chạm lộng để bắt nhịp vào mãng chạm rồng phía dưới, nhưng thân rồng lại có khối tròn lẩn vào trong, chưa thỏa mãn nghệ sĩ chạm khắc còn đưa vào đó hợp cảnh có ba con sấu hóa rồng ở vị trí guốc hoành đầu thụt vào thân và đuôi nhô ra như đang làm xiếc.

Cùng một lúc tác giả sử dụng nhiều mối quan hệ của kỹ thuật để tạo nên mối tổng hòa cho nghệ thuật: vừa chạm lộng, vừa chạm nông, vừa tạo khối tròn làm cho cái nọ đẩy cái kia, tạo mối tương phản để soi sáng cho nhau rồi cùng đi vào một nhịp điệu ngày hội.

Theo dọc xà dọc, bức chân dung rồng đơn lại lan tỏa sang gian bên để rồi lại bắt nhập với những chân dung rồng khác. Ngay trên xà dọc tiếp nối với xà trên, ở gian tiếp bên cạnh chái vừa nói, ta lại bắt gặp chân dung rồng đôi.

Cùng một thể thức chân dung rồng đôi ở cửa võng, ở đây chân dung rồng đôi cũng có một kích thước rất lớn choán hết một phần ba bức chạm và một khúc rồng chồi ra đội xà dọc phía trên, thấp thoáng sau những đao lửa. Một vài họa tiết trang trí phụ cho chân dung rồng đôi như thạch sung, rắn… tạo cho ta một cảm nhận vui vẻ của một ngày hội. Nghệ thuật chạm lộng chân dung rồng ăn nhập với thủ pháp chạm nông ở xà hạ gây đối sánh và tương phản rất mạnh.

Chân dung rồng đôi, một rồng to, một rồng bé cười khoái chí hòa nhập với cuộc gặp gỡ của đôi rồng lân trong hội làng.

Chân dung rồng đôi mỗi con một cá tính: một chân dung rồng biểu hiện nụ cười thoải mái, hai tay cong như hai cánh phượng, những bờm râu, tóc nhẹ nhàng ăn nhịp với râu và đao hỏa bên dưới, còn một chân dung rồng nữa, mặt hơi nghiêm, có cái gì chững chạc, nụ cười vừa phải, khối mặt đôn hâu, nhô ra nhiều và đứng ở vị trí cao hơn ăn nhịp với khúc rồng to hơn uốn cong sát xà dọc và râu rồng, thạch sung, rắn được cuộn lên nhiều lớp… ở phía trước, phía trong và phía sau.

Phia ben phai cua vong

Phía bên phải cửa võng

Bức chạm được thực hiện bằng cách cắt ra thành hai phần cho việc lắp ghép được dễ dàng.

Bức chạm lộng bên trái và bức chạm nông bên dưới cùng một lúc có hai không gian đồng hiện, lại được sử dụng hai thủ pháp chạm khác nhau nên nghệ thuật gây tương phản, để rồi công kênh nhau mà tạo ra giá trị độc đáo, cách phân chia bố cục rạch ròi, mặt rồng theo hình chuyển động tròn, nhưng được xà dọc ép xuống bắt nhịp với khúc rồng lộ ra gây một cảm giác chuyển động trọn vẹn, đầy đủ về hình thể. Khối phụ nhân tính cách của hai cá tính chân dung rồng, đao lửa ăn nhập với con rắn, thạch sùng cuộn lên ở tầng một và tầng hai của râu.

Phia trai cua vong

Cũng trên cùng một hướng của xà dọc (gian phải sát thượng cung) có chân dung rồng đôi thô khỏe, nhưng rất đáng yêu, đao lửa đươc tỏa ra, mỗi râu rồng có một rồng con đậu lên hướng vào rồng mẹ, đầu rồng con như đầu rắn, tai rồng như hình lá, ria mép rồng đơn giản, nét cong ra nhiều.

Cứ như thế, cảnh chân dung rồng đơn, rồng đôi kéo dài qua thượng cung sang các gian, các chái bên trái để rồi cùng nhau hợp thành một dải phù điêu hoành tráng với nhiều không gian trong một không gian, nhiều đối tượng hội làng trong một chủ đề, tất cả đều tổng hòa nhau và cùng đồng hiện một lúc.

Có điều kỳ lạ, tất cả chín chân dung rồng trong hợp thể hội làng (xà dọc phía sau của các gian và chái) đều có cá tính rất khác nhau mang những tính cách rất đời, chứa chan tình cảm của con người lao động như ta vừa phân tích ở trên.

Một bức chạm nữa làm ta hết sức khâm phục về tính chất hoành tráng của nó hòa nhập với tính chất hoành tráng chung của ngôi đình (nằm phía trước, giữa cột cái và cột quân phía bên phải trước thượng cung). Ta thấy cùng một lúc đồng hiện bốn không gian từ phía trên xuống: đấu vật, đoàn người mang sản phẩm săn bắt đến dự hội, đấu kiếm, múa rồng. Không gian đấu vật được thể hiện bằng thủ pháp chạm nông, hai đô vật mình trần đóng khố, diễn ra ác liệt, hình khối chưa phân thắng bại đang còn tiếp tục keo nữa. Đây chính là biểu hiện của tinh thần các lò vật xứ Đoài mà ta đã thấy các đô vật danh tiếng của đất Yên Lỗ: Cao Lỗ, Từ Nãi, đô Tổng… Ba không gian còn lại nghệ sĩ điêu khắc thực hiện theo lối chạm lộng: – Đoàn người hành lễ mang theo sản phẩm săn bắt được vào tham gia hội làng. Ai nấy đều phấn khởi, thoải mái, vui vẻ biểu hiện trong tư thế, dáng đi của những người khênh hươu nai, còn người cưỡi ngựa thì rất vui – Cảnh đấu kiếm dược xây dựng một cách khái quát, không giống như ta nhìn thấy các chi tiết thực, nhưng vẫn cho ta thấy các động tác cầm kiếm rất chuẩn xác. Sinh động nhất có lẽ là cảnh các nàng tiên múa với nhịp điệu duyên dáng, những nét mặt, bàn tay được chạm lộng lúc ẩn, lúc hiện tạo sự chuyển đổi của các hình thể và sự phát triển của khối, của các sắc độ ánh sáng.

Như thế, ta thấy rõ dù ở diện mạo nào của các bức chạm khắc ở đinh Hương Canh ta vẫn cảm nhận cái giá trị hoành tráng của nó với nhiều không gian, nhiều chủ đề cho một mối tổng hòa chung: một không gian chung và một chủ đề chung về hội làng. Tinh thần ấy đã nằm ngay trong các chân dung rồng với hợp thể hội làng, dù ở phương diện nào, chân dung rồng đơn hay rồng đôi.

Nghệ thuật hoành tráng ấy lại được nghệ sĩ điêu khắc thể hiện một cách thông minh bằng cách tạo đối sánh các thủ pháp chạm khắc và có khi lại chia đôi cho dễ thể hiện và lắp ghép, nhưng vẫn có một phong cách, một ý đồng nhất với nghệ thuật chung.

Điều này là một cách làm rất khôn khéo, nhất là đối với những bức chạm lớn kéo suốt từ trên thượng lương xuống với nhiều cảnh, nhiều chi tiết và nhiều không gian giật cấp phức tạp.

Điêu khắc hoành tráng đình Hương Canh là một nghệ thuật điêu luyện mang tính chất bác học rõ rệt. Tất cả mọi bức chạm đều có ý đồ rõ rệt, được phân chia, sắp xếp theo một chủ định, nhưng đều nằm trong một mối tổng hòa chung. Không có những bức chạm bị kênh ra, mọi bức chạm đều có liên quan, ăn nhập vào nhau. Chân dung rồng trong hợp thể hội làng khá phong phú, ta không thấy những chân dung xa lạ như những con rồng lạc bầy, mọi chân dung rồng đều mang ý nghĩa quần tụ, như những bầy rồng rủ nhau đi xem hội. Chân dung rồng đơn hay rồng đôi cũng vậy, ta thoáng cảm nhận tính chất mộc mạc, giản dị như những cái chum, cái nồi, cái máng bằng gốm được tạo ra ngay từ những bàn tay khéo léo của những người dân địa phương.

Điêu khắc hoành tráng đình Hương Canh chứa đựng nội dung sôi nổi của hội làng, điều đó cũng thật dễ hiểu đối với một vùng đất có truyền thống văn hóa lâu đời với những hình thức sinh hoạt phong phú của hội làng như ta đã thấy ở phần trên: vật Yên Lỗ, bơi chải đầm vạc, lại còn chạy cờ, múa gậy, múa rồng rắn, đánh phết, cướp cầu… khắp một vùng Tam Đảo (Hương Canh) và những vùng đất lân cận.

Trang tri hinh rong dang doi

Trang trí hình rồng đăng đối trước điện thờ

Điêu khắc hoành tráng đình Hương Canh là tiếng nói tươi vui của hội làng, nó góp phần làm giàu thêm những giá trị tinh thần dân chủ, tự do và bình đẳng của một nền văn hóa, nghệ thuật giàu bản sắc địa phương, thể hiện một tính chất dân gian rõ rệt, nhưng lại đạt tới cái chuẩn mực của một nghệ thuật bác học về nhiều mặt: chủ đề quán xuyến, nét chạm điêu luyện, thông minh, già dặn, tổ chức không gian nghệ thuật hợp lý, chặt chẽ.

Nghệ thuật ấy thực sự là gương mặt của làng xã với cái nhìn hóm hỉnh, nụ cười thật tươi vui… Cuộc sống đấy, mà cũng là sự giải trí cho những ngày lao động vất vả.

Gia trong gia chieng

Khong gian kien truc dinh Huong Canh

Phu dieu dinh Huong Canh

Phu dieu

phu dieu

Chan dung rong be rong me

TÌM VỀ NGUỒN CỘI: CHÁO XE – BÁNH HÒN HƯƠNG CANH

Chương trình ‘Tìm về nguồn cội’ – Đài phát thanh truyền hình Hà Nội thực hiện 7/2016

 

TÌM VỀ NGUỒN CỘI: LÀNG GỐM HƯƠNG CANH

Chương trình tìm về nguồn cội- Đài phát thanh truyền hình Hà Nội thực hiện 7/2016

 

QUÁN SẶT HƯƠNG CANH

13138932_1014752798618183_6716666063631421367_n

Quán Sặt 2012

 

13592272_10205134754167286_2928332128016211269_n

Quán Sặt 2016

GIỚI THIỆU ĐÌNH HƯƠNG CANH

Đình Hương Canh xưa thuộc huyện xã Hương Canh, huyện An Lãng, Phủ Tam Đái, Trấn Sơn Tây (xứ Đoài), nay là thị trấn Hương Canh, huyện Bình Xuyên, Tỉnh Vĩnh Phúc, chỉ cách Hà Nội chừng 40km về phía Tây Bắc.

Từ xa xưa Hương Canh đã nổi danh xứ Đoài về sự trù phú và danh giá, từng có câu ca dao cổ đời Lê ca ngợi vùng đất này:

Xứ Nam nhất chợ Bằng Gồi

Xứ Bắc Vân Khám, xứ Đoài Hương Canh

Cũng chính bởi thế tại Hương Canh đã có rất nhiều công trình văn hóa với quy mô to lớn dầy về kiến trúc, dầy đặc về mật độ còn được gìn giữ nguyên vẹn đến ngày nay. Cho đến những năm cuối thế kỷ XX vẫn còn lại 3 đình lớn và 3 ngôi chùa cổ. Nhưng có lẽ trong các công trình ấy được nhắc tới  nhiều và ca ngợi hơn cả là Đình Hương Canh.

10599576_687464424680357_5301196141377803577_n (1).jpg

Đình Hương Canh- Ảnh Nguyễn Văn Kự (2002)

10888453_580345038766990_2122647867982947223_n

Đình Hương Canh – Ảnh Di sản Việt (2005)

Hiện nay tại đình không còn niên biểu ghi lại chính xác niên đại , tuy nhiên căn cứ vào nghệ thuật kiến trúc và những khảo tá trong dân gian lại thì đình được xây vào cuối thế kỷ 17- đầu thế kỷ 18 thời Hậu Lê.

Đình Hương Canh có kiến trúc hình chữ Vương, gồm ba toàn Tiền Tế, Trung Tế (Đại đình) và Hậu cung đây cũng là kiểu kiến trúc chung của cụm di tích 3 đình Hương Canh, Ngọc Canh, Tiên Canh tạo thành cụm đình Tam Canh độc đáo.

Phần tiền tế của đình gồm 3 gian, có mái được xây dựng theo kiểu chồng diêm 2 tầng 8 mái. Các bờ nóc, đầu đao được các nghệ nhân trang trí rất công phu tinh xảo.

10402620_475203245952869_8459806756328187394_n

Trang trí bờ nóc đình Hương Canh- Ảnh Di sản Việt

Tòa Đại đình dài 26m, rộng 13,5m có rất nhiều bức chạm trổ hết sức tinh vi đặc biệt nhất là những bức chạm trên ván gió. Với 15 bức chạm lớn nhỏ được ghép thành 6 mảng lớn ở trong đình, các bức chạm toát lên tinh thần miêu tả không khí vui tươi của ngày hội làng, nhiều bức đã đạt tới đỉnh cao nghệ thuật điêu khắc đình làng Việt Nam. Như các bức: “Bơi chải”, “Đi săn” “Đánh vật”., “Cưỡi long dự hội”…

12189692_718182951649864_1571439306037259427_n.jpg

Chạm khắc ván gió đình Hương Canh- Ảnh Nguyễn Hoài Nam

Đình Hương Canh thờ sáu vị thành hoàng là những nhân thần triều nhà Ngô, gọi là Lục vị thành hoàng trong đó có con cả của Ngô Quyền là Ngô Xương Ngập phong là Thiên Sách Hoàng Đế, con thứ Ngô Xương Văn được phong là Quốc Vương Thiên Tử và Đỗ Cảnh Thạc là tướng của Ngô Quyền, cùng 3 nhân vật khác được phối thờ là Linh Quang Thái Hậu, Khả Lã Nương Nương và Thị Tùng Phu Nhân.

Căn cứ vào tài liệu thống kê của Viện Viễn Đông Bác Cổ (1938), đình Hương Canh có 26 đạo sắc phong được phong từ đời Hậu Lê tới cuối đời Nguyễn nhưng do những biến cố lịch sử trong thời gian kháng chiến chống Pháp (1949-1954) nên tất cả những sắc phong nay đã không còn và đáng tiếc không còn bản sao ở các thư viện lưu trữ quốc gia.

Không chỉ thờ thành hoàng làng, hai gian cạnh của đình có hai ban thờ khác. Bên tả thờ những bậc tiên hiền của làng gọi là ban ‘Tiên Hiền Quan’. Bên hữu thờ các nghĩa sĩ của làng đã hy sinh trong hai lần chống giặc Thằng Què (Nguyễn Danh Phương) năm 1750 và quân Cờ Đen Lưu Vĩnh Phúc năm 1884. Ban thờ bên hữu đó gọi là “Ban Trung Hồn Quan”

10413315_669739683160858_5048682366225610925_n

Cụ Nguyễn Khắc Lâm (1883-1944)-Ảnh tư liệu Viện Viễn Đông Bác Cổ

Theo tư liệu sưu tầm tại địa phương, và lời kể bậc cao niên trong làng, xưa kia đình Hương Canh vẫn ở vị trí hiện nay nhưng nền thấp, đình lại ở gần bờ sông Cánh hơn cả so với các công trình khác vì thế nhiều năm nước to đều ngập sàn đình. Chính vì thế, năm 1925, cụ trùm nước ba làng Cánh là cụ Nguyễn Khắc Lâm (1884-1944) đã huy động nhân dân lên táng ngôi đình và đổ đất nền lên cao tới 1.5m vì thế đình có địa thế cao như hiện nay . Trong lần trùng tu này người làng đã sửa gọn tòa tiền tế thành phương đình hai tầng tám mái nguy nga lỗng lẫy. Ngày 14, 15 tháng Hai hàng năm là ngày lễ hội tế thành hoàng tại được tổ chức cùng ngày với các đình tại ba làng Tam Canh .Ngoài ngày đại tế các kỳ tế lễ khác như Rằm Tháng 7 , Hạ Điền và hai kỳ giỗ trận đều được tế lễ các đình với quy mô nhỏ hơn nhưng đều nay đều thất truyền hết cả.

Ngay từ những năm đầu thế kỷ XX, nghệ thuật kiến trúc đình Hương Canh đã được người Pháp đánh giá là một trong những công trình văn hóa có giá trị. Viện Viễn Đông Bác Cổ đã tiến hành nghiên cứu và chụp  ảnh tư liệu tại nơi đây, hiện còn lưu trữ  ở thư viện viện Thông Tin Khoa Học Xã Hội nhưng chưa được sưu tầm hết.

11953147_883539971739467_6144803618670327606_n.jpg

Bơi chải –  Chạm khắc đình Hương Canh-Ảnh: Nguyễn Đức Bình

Ngày 18-10-1964, đình Hương Canh được Bộ Văn Hóa xếp hạng là Di tích lịch sử văn hóa quốc gia, riêng phần chạm khắc được liệt vào loại A

Từ năm 2007 đến 2010 đình đã được được Bộ VHTT & Du lịch tiến hành trùng tu với quy mô lớn từ nguồn ngân sách quốc gia đã cơ bản cải tạo vấn đề xuống cấp do thời gian và phục dựng được tòa hậu cung đã bị dỡ bỏ năm 1964.

 

GIỚI THIỆU ĐÌNH NGỌC CANH

OLYMPUS DIGITAL CAMERA

I. Vị trí

Đình Ngọc Canh xưa thuộc làng Ngọc Canh, huyện An Lãng, Phủ Tam Đái, Trấn Sơn Tây (xứ Đoài) , đời Nguyễn là tổng Hương Canh, phủ Vĩnh Tường, tỉnh Sơn Tây, nay là thị trấn Hương Canh ,huyện Bình Xuyên, Tỉnh Vĩnh Phúc. Làng Ngọc Canh cũng là một trong ba làng Cánh

Đình Ngọc Canh cùng với đình Hương Canh và Tiên Canh ở nơi đây tạo thành cụm di tích đình Tam Canh độc đáo về mỹ thuật kiến trúc gỗ cổ dân gian hiếm thấy của xứ Đoài và vùng đồng bằng – trung du Bắc bộ.

II. Lịch sử xây dựng

Đình Ngọc Canh được làm theo hướng Tây Nam trên khu đất bằng phẳng rộng rãi ở ngay đầu làng và chỉ cách đình các đình Hương Canh 200 mét ở phía trước.

Theo những niên biểu còn ghi lại trong đình và nghệ thuật kiến trúc điêu khắc cùng với những câu chuyện còn lưu lại ở nơi đây thì có thể xác định rằng đình Ngọc Canh được xây dựng thời Hậu Lê, triều vua Lê Hiển Tông niên hiệu Cảnh Hưng (1740-1786) trên nền ngôi đình cũ và sau đó được tôn tạo khang trang vào đầu thời Nguyễn

Đình được kiến trúc kiểu chữ Vương(王) bao gồm ba toàn Tiền tế – Trung tế – Hậu cung được nối liền với nhau bằng một ống muống dọc thành một khối đồ sộ và vững chãi, tất cả có 15 gian 4 chái, với diện tích mặt sàn hơn 600m2.

Tiền tế gồm 5 gian hai chái, dài 20m25 rộng 7m10 trên câu đầu khắc ghi niên đại xây dựng Kỷ Sửu 1769

Trung tế gồm 5 gian hai trái, hai dĩ dài 24m rộng 13m37 có khắc ghi niên đại đặt thượng lương năm Gia Long thứ 12 (1813) và hoàn thành sơn son thếp vàng năm Minh Mạng thứ nhất (1820)

Quan sát từ tổng thể đến chi tiết, ngoài vào trong có thể thấy đình Ngọc Canh là một công trình hoàn chỉnh vừa đồ sộ lại vừa thanh thoát. Nổi bật là bộ khung đình chắn chắn bằng gỗ lim với các hàng 6 chân cột ở mỗi gian. Cột cái ở đại đình có đường kính lên tới 2m40 vào cao gần 6m .Toàn bộ khung đình tất cả 96 cột gỗ được kết hợp với nhau chặt chẽ với mộng xà để đỡ cả bộ mái đình khổng lồ cùng các các bờ nóc, đầu đao được đắp trổ tỉ mỉ công phu.

Nghệ thuật chạm khắc gỗ ở đình Ngọc Canh còn lại đến ngày nay là sự pha trộn kết hợp của hai thời kỳ Lê Nguyễn. Những mảng chạm mang tính ước lệ và quy chuẩn ở đời Nguyễn được kết hợp đan xen với nét tự do của điêu khắc đời Lê sau các lần trùng tu một cách hài hòa.

Các mảng chạm ở đình Ngọc Canh thiên về tả cảnh lao động, những thú vui hàng ngày trong nông thôn. Các bức cốn đã thể hiện thực tế cuộc sống của nhân dân ta nửa cuối thế kỷ 17, như các bức chạm: “Hội làng”, “Dựng cột buồm”, “Uống rượu”, “Đánh cờ”, “Hát cửa nhà quan”……. Với lối bố cục chặt chẽ, hài hoà, đường nét phóng khoáng tự do, chú ý khắc hoạ từng chi tiết thể hiện rõ tình cảm, cá tính của từng nhân vật trong bức chạm để rồi có một tác phẩm hoàn hảo, mang nội dung tư tưởng sâu sắc, thể hiện cao độ đề tài định trước. Tất cả những điều đó đã chứng tỏ nghệ thuật kiến trúc của đình Ngọc Canh đã đạt tới đỉnh cao nghệ thuật kiến trúc cổ truyền.

III. Các vị thần được thờ

Cũng như đình Hương Canh và Tiên Hường, đình Ngọc Canh thờ 6 vị nhân vật lịch sử đời Hậu Ngô gọi là Lục vị Thành Hoàng. Gồm Thiên Sách Vương- Ngô Xương Ngập con trai cả của vua Ngô Quyền được phong là Thiên Sách Hoàng Đế, Nam Tấn Vương- Ngô Xương Văn con trai thứ Ngô Quyền phong là Quốc Vương Thiên Tử, tướng quân Đỗ Cảnh Thạc phong là Đông Nhạc Đại Thần và ba nhân vật phụ nữ khác trong triều đình nhà Ngô đương thời được phối thờ.

Tương truyền vào thời thiên hạ thái bình Thiên Sách Vương và Nam Tấn Vương thường đi tuần thú và săn bắn đã nghỉ chân hạ trại ngự tại các gò ngoài làng. Cảm ân công đức hai vua, dân ba làng liền xin được lập sinh từ rồi khi nhà Ngô mất, nhân dân đã lập thành miếu thờ. Đến thời Lê ba làng Hương Canh, Ngọc Canh, Tiên Canh mới xây dựng cho làng mình một ngôi đình đã rước linh vị vào trong đình thờ phụng.

IV Sự kiện

Trải qua bao nắng mưa thời gian, đình Ngọc Canh đã cùng với các thế hệ dân làng trải qua biết bao biến cố thăng trầm của lịch sử. Tại chính giữa đình, có treo bảng khen “Trung Nghĩa Dân”  do vua Lê Hiển Tông đã ban  vì làng  đã có công giúp triều đình chống giặc cỏ trong vùng.

Năm 1949, thực dân Pháp tấn công lên các tỉnh trung du phía Bắc, đình Ngọc Canh được  được lệnh đốt cháy để tiêu thổ kháng chiến. Khi củi rơm chất đầy trong đình thì người làng đã quyết giữ lại trước khi đi tản cư, vì thế ngôi đình còn đến hôm nay

Căn cứ vào nghệ thuật kiến trúc và mỹ thuật của ngôi đình. Ngày 15/1984 theo quyết định 6-VH/QĐ của bộ Văn Hóa đình Ngọc Canh đã được công nhận và xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia.

V.Sinh hoạt

Để cảm tạ công ơn Lục vị thành hoàng đã che chở và cầu mong các vị  phù hộ cho dân làng, nhân dân đã chọn Đại tế vào các ngày 15 tháng Hai, lễ Thượng điền 15 tháng Bảy, lễ Hạ điền 15 tháng Mười. Các nghi tức tế lễ được diễn ra rất trang trọng, đây cũng là ngày hội chung của cả ba làng khi xưa. Sau một thời gian gián đoạn do chiến tranh, những năm gần đây các lễ hội tế đình đã được phục hồi. Ngày nay, lễ hội tế đình không chỉ có các lão ông mà bao gồm toàn thể nhân dân trong làng và người xa quê về tham dự đông vui.

Năm 2009 đình Ngọc Canh được nhà nước tiến hành trùng tu với quy mô lớn, các khu vực dân cư xung quanh được giải bàn giao trả lại không gian xưa của ngôi đình, khuôn viên ngôi đình được mở rộng, cũng vì thế các hoạt động văn hóa  ở bên trong và ngoài sân đình diễn ra rất sôi nổi. Các hội văn nghệ, hội người cao tuổi yêu thơ, đội bóng chuyền hơi của thị trấn .. được tổ chức định kỳ hàng tuần tại đây. Ngôi đình không chỉ là một di tích lịch sử mà cũng trở thành một trung tâm sinh hoạt văn hóa chung của cả người dân mọi lứa tuổi trong cuộc sống hôm nay.

QUANH HỒ SINH THÁI

QUANH  HỒ  SINH  THÁI

 20150712_133750

Buổi chiều xuân, dạo hồ sinh thái

Thấy lòng mình khoan khoái tăng thêm

Hương sen tỏa ngát bên thềm

Vẳng nghe câu hát dịu êm vọng về

 

Đường bê-tông bốn bề sạch sẽ

Nhà cao tầng kẻ vẽ gần xa

Đình Hương cổ kính hiền hòa

Xếp hàng di sản quốc gia lâu rồi

 

Dòng sông Cánh bên bồi bên lở

Nước mát lành ngô đỗ chờ mong

Cầu Treo xe chạy thong dong

Nơi đây điểm hẹn thỏa lòng lứa đôi

 

Chùa Kính Phúc là nơi thái lão

Niệm Quan Âm sầu não tiêu tan

Kính mời quý khách tham quan

Đình Tiên, đình Ngọc hân hoan đón chào

 

Trường Tiểu học tự hào trường chuẩn

Trường Mầm non phấn chấn rạng ngời

Quỹ Tín dụng cũng tuyệt vời

Giảm nghèo xóa đói xây đời ấm no

 

Cùng thư giãn với trò chơi Tết

Hội kéo song gắn kết tình dân

Tùng tùng trống giục ra quân

Reo hò dậy đất tinh thần thể thao

 

Cờ Tổ quốc bay cao trong gió

Khu Ủy ban sáng tỏ niềm tin

Trạm Y tế đẹp tầm nhìn

Mong dân khỏe mạnh giữ gìn tương lai

 

Kia thuyền rồng mùng hai ra mắt

Dáng xinh  xinh đón khách quê ta

Mừng Câu lạc bộ số 3

Mười lăm năm, đã vượt qua chặng đường

 

Chở nặng trĩu tình thương nỗi nhớ

Lời Bác Hồ xin chớ thờ ơ

Mừng Xuân dệt đẹp ước mơ

Chung tay xây dựng cơ đồ Việt Nam .

Xuân Ất Mùi- 2015                         Trần Ngọc Bích 

                      

Chương trình Chiều quê hương- CỔNG LÀNG HƯƠNG CANH

ĐÃ TỪNG CÓ MỘT VIỆT NAM NHƯ THẾ

“ĐÃ TỪNG CÓ MỘT VIỆT NAM NHƯ THẾ!”

Đó là điều tôi cảm nhận khi lặng xem những bức ảnh cũ lưu trữ của Pháp được chụp ở Đông Dương hồi đầu thế kỷ XX

Đã từng có một Việt Nam với đình chùa lăng tẩm nguy nga mà thanh thoát được tạo ra bởi bộ óc sáng tạo và những đôi bàn tay tài hoa của ông cha với nhiều nghi lễ tinh thần trang nghiêm và thành kính

Đã từng một Việt Nam thanh bình với những cây đa, bến nước, con đò êm ả như trong thơ văn mà tôi hằng tưởng tượng

Đã từng có những con người Việt Nam đôn hậu và hiền lành chân chất ngay từ trong nét mặt nụ cười và ánh mắt với người xa lạ

Đã từng có một văn hiến Việt Nam không thể mô tả hết bằng lời mà chỉ có thể cảm nhận những nét tinh thần ấy trong từng hình ảnh cũ và ý nghĩa trong những câu chuyện truyền miệng xa xưa.

Tiếc thương cho một nền văn hóa Việt Nam đã bị thủ tiêu ngay trong chính lòng dân tộc. Chỉ sau 40 năm, cũng chỉ là khoảng thời gian hai đời người, văn hóa truyền thống bị gián đoạn và đứt gãy, thì giờ đây tất cả hầu như đã biến dạng và méo mó, để mỗi lần tìm tầm nguyên lại mò mẫm và suy đoán, bàn cãi và giả định những điều mà chỉ mấy chục năm trước vốn là điều hiển nhiên.

Chúng ta như dường như đang lạc loài trong chính dân tộc chúng ta. Lúc nào cũng cổ võ một nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc nhưng lại luẩn quẩn ở câu hỏi thuần Việt ngày xưa như thế nào?

Dẫu biết rằng sự thay đổi của xã hội để đi lên hiện đại là tất yếu, và việc hoài cổ chẳng có tác dụng cho sự tiến bộ song chắc chắn rằng nếu chúng ta đã biết dân tộc ta vốn như thế nào thì điều đó cũng như sách có câu “Ôn cố tri tân” nghĩa là “Ôn tập cái cũ để hiểu cái mới!” chẳng phải là tốt lắm ru?

Cảm ơn chị Ann Đỗ đã chia sẻ nguồn tư liệu quý, nhất là có những bức hình hơn 80 năm về trước của chính ngôi làng tôi đã được sinh ra.

DAFANCAOM01_30FI123N077_P

Hạc đình Hương Canh

DAFANCAOM01_30FI123N078_P

Tượng Thánh Hiền Chùa Hương Canh

DAFANCAOM01_30FI123N074_P

Ngựa cột trụ đình Hương Canh

DAFANCAOM01_30FI117N082_P

Voi cột trụ đình Hương Canh

11058205_391168171086159_7320277856380564178_n DAFANCAOM01_30FI115N063_P DAFANCAOM01_30FI119N025_P

LỊCH SỬ VĂN MIẾU Ở VĨNH PHÚC

    Nước ta từ khi khởi dựng cơ đồ ở Phương Nam, mở mang nền văn hiếu rực rỡ. Ở Kinh thì có Quốc Tử Giám, các tỉnh bên ngoài đều có văn miếu riêng của mỗi địa phương, hàng năm xuân thu nhị kỳ cúng tế, việc đều có biên chép trong điển thờ để tôn sùng Thánh Đạo.
Đó là lời dẫn của Long Cương Cao Xuân Dục trong văn bia ”Sơn Tây từ phổ khuyến văn” về việc lập văn miếu theo các cấp hành chính tự xưa. Theo đó ở các tỉnh và cấp phía dưới là phủ có văn miếu thờ Khổng Tử, dưới nữa là các huyện, các tổng có văn từ, về đến làng xã có văn chỉ. Tất cả hệ thống thờ tự cứ án theo hệ thống hành chính đã phân định cấp trên cấp dưới, tất nhiên không phải phủ huyện nào cũng có.     Nhân chuyện tỉnh Vĩnh Phúc làm Văn Miếu mới , cùng tìm hiểu văn miếu xưa ở đây theo cấp độ nào trong hệ thống văn miếu, văn chỉ xưa kia.1507061_10203149267611363_3151148857455247281_nTỉnh Vĩnh Phúc ngày nay vốn là hai tỉnh Vĩnh Yên & Phúc Yên sát nhập lại năm 1950, địa giới hai tỉnh cơ bản là đất của Phủ Tam Đái,trấn Sơn Tây- đời Lê; tức phủ Vĩnh Tường, tỉnh Sơn Tây- đời Nguyễn.Tỉnh Sơn Tây đời đầu Lê gọi là thừa tuyên Sơn Tây, sau gọi là xứ, rồi trấn, tục gọi là xứ Đoài (xứ phía Tây kinh thành Thăng Long). Khi đó trấn Sơn Tây là cả một vùng rộng lớn dọc theo hai bên bờ trung lưu sông Hồng là đất các tỉnh Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Hà Tây, Hòa Bình và một phần Hà Nội ngày nay.

Có câu ca dao cổ đời Lê:
                            “Xứ Nam nhất chợ Bằng Gồi- Xứ Bắc Vân Khám, xứ Đoài Hương Canh”

Ấy là bởi vì Hương Canh (Bình Xuyên- Vĩnh Phúc) khi ấy cũng thuộc xứ Đoài, Trấn Sơn Tây thời đó.  Năm Minh Mạng thứ 12(1831) chia lại tỉnh hạt đổi trấn Sơn Tây thành tỉnh Sơn Tây, tên gọi ấy ổn định cho đến khi người Pháp vào cai trị.
Văn Miếu tỉnh Sơn Tây xưa kia ở dựng làng Cam Giá huyện Phúc Thọ, không rõ năm khởi dựng, chỉ biết rằng đến năm Thiệu Trị thứ 7 đời Nguyễn (1846) thì được Nguyễn Đăng Giai cho chuyển về làng Mông Phụ- Sơn Tây. Năm Thành Thái thứ 3 (1891) Tổng đốc Sơn Tây là Long Cương Cao Xuân Dục cho sửa sang trùng tu lại đồng thời soạn họ tên các vị giáp khoa mà khắc vào bia đá
Đến năm tiêu thổ kháng chiến 1947, Văn Miếu Sơn Tây bị dỡ bỏ hoàn toàn , nay chỉ còn giữ được chiếc khánh đá gửi tại đình Mông Phụ. Những năm thành lập hợp tác xã nền văn miếu Sơn Tây được lập Trại nuôi Gà. Năm 2012 được xây dựng lại

Văn miếu Sơn Tây

Văn miếu Sơn Tây

Phủ Tam Đái là vùng đất đai màu mỡ, trù phú nằm ở bên tả sông Hồng của trấn Sơn Tây, xưa kia nơi đây trai thời hay chữ, gái giỏi tầm tang cho nên có câu “ Trai Tam Đái, Gái Khoái Châu” để khen ngợi con người nơi đây.
Vốn là vùng đất có truyền thống hiếu học và có nhiều người thành danh khoa bảng ngạch văn, nên Phủ Tam Đái đã sớm lập Văn Miếu tại xã Cao Xá huyện Bạch Hạc, nay là thôn Cao Xá , xã Cao Đại huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc.
Văn miếu phủ Tam Đái được làm từ đời Lê Sơ không rõ năm nào và được trùng tu các năm 1667, 1697, 1777 được ghi qua các văn bia và câu đầu . Năm 1667 gọi là trùng tu nhưng thực tế là xây mới hoàn toàn vì trong văn bia có nó văn miếu cũ đổ nát chỉ còn nền cũ. Văn bia năm trùng tu lần 2 (1697-1701) có ghi rằng văn miếu “có chính điện, có tiền đường” tức là có cấu trúc hình chữ Nhị (二) cùng cầu bẩy gian bắc qua hồ chính diện, phía trước có nghi môn, hai bên là nhà dải vũ.
Tuy nhiên xét theo cấp bậc hành chính thì văn miếu hàng phủ Tam Đái sẽ không lớn hơn quy mô của Văn Miếu hàng trấn (tỉnh) Sơn Tây ở Đường Lâm.

Năm Minh Mệnh thứ 2 (1821) Tên phủ Tam Đái đổi thành Tam Đa năm sau (1822) đổi thành Vĩnh Tường do đó Văn Miếu Tam Đái cũng đổi theo tên phủ nên gọi là Văn Miếu Vĩnh Tường cho đến khi được di dời về Vĩnh Yên
Người Pháp bắt đầu cai trị tỉnh Sơn Tây sau khi đánh bại quân Cờ Đen ở thành Sơn Tây, một trong những công việc đầu tiên là chia tỉnh Sơn Tây rộng lớn thành các tỉnh nhỏ để quản lý. Tỉnh Vĩnh Yên được thành lập lần đầu trên cơ sở đất đai cả phủ Vĩnh Tường và một phần huyện Bình Xuyên của tỉnh Thái Nguyên tỉnh lỵ đặt tại làng Cánh (Hương Canh), nhưng 6 tháng sau bị giải thể và lại lệ vào Sơn Tây.

Xã chí xã Định Trung

Xã chí xã Định Trung

Năm 1899, tỉnh Vĩnh Yên được tái lập. Tỉnh ly đặt tại làng Tiếc (Tích Sơn), huyện Tam Dương nay là phường Tích Sơn, thành phố Vĩnh Yên. (Chữ Vĩnh Yên-永安 là lấy từ tên đầu của hai hạt cai trị lớn nhất trong tỉnh là phủ Vĩnh Tường 永祥 & huyện Yên Lãng安朗)

Khoa thi tiến sỹ Hán học cuối cùng diễn ra năm 1919 là sự cáo chung cho lối thi khoa cử theo lối cũ sau gần 1000 năm tồn tại ở nước ta . Những tưởng nền Hán học  và  hệ thống văn miếu, văn từ ở tỉnh cũng dần mai một theo , nhưng đến cuối năm 1925-đầu năm 1926, nguyên tuần phủ Vĩnh Yên là Nguyễn Văn Bân và đương tuần phủ Phạm Gia Thúy đã cho xây văn miếu tỉnh Vĩnh Yên trên cơ sở di dời toàn bộ hệ thống khung nhà , văn bia của Văn Miếu Vĩnh Tường về gò Giốc Lạc (Dốc Láp), thôn Yên Định, xã Định Trung, huyện Tam Dương cách nơi cũ gần 20km
Nguyên tuần phủ Vĩnh Yên, Nguyễn Văn Bân, người làng Hữu Bằng, huyện Thạch Thất, tiến sỹ khoa Tân Sửu (1901) vẫn còn nặng lòng với nền cựu học, sau 3 năm dự định ấp ủ chuyển văn miếu về tỉnh lỵ vì tỉnh mới Vĩnh Yên chưa có văn miếu hàng tỉnh, nay mới thực hiện thực hiện được công việc này.( Vĩnh Yên Tỉnh Văn Miếu bi ký-1927)
Theo tài liệu “Xã chí” do viện Viễn Đông Bác Cổ sưu tầm thực tế và ghi chép theo lời khai của lý trưởng Hoàng Văn Ngọ làng Định Trung năm 1938, nguyên văn ghi như sau:

“Văn Miếu Tỉnh Vĩnh Yên ở địa phận thôn Yên Lập, có xáu cái nhà. Văn Miếu này làm từ đời Cảnh Hưng Đinh Dậu Niên (1777) ở bên phủ Vĩnh Tường xã Cao Xá, đến năm Thiệu Trị Ất Tỵ (1841) đã xửa lại, năm Bảo Đại Bình Dần (1926) thì hàng tỉnh mang về xã Định Trung và sang xửa trỉnh đốn lại (câu đầu cũ vẫn còn hai cái có niên hiệu cũ) Câu đầu Văn Miếu : Bảo Đại Bính Dần Niên Tu Tạo (1926).”

Sách có phác họa sơ đồ cấu trúc Văn Miếu:

– Chính giữa vẫn là hai nhà hình chữ nhị mang từ Cao Xá về, nhà trước gọi là Tiền Đường, cái phía sau gọi là Văn Miếu
– Bên phải có các nhà có kích cỡ nhỏ hơn, ngang với Tiền Đường có đền thờ Bách Linh, đền thờ Khải Thánh và Văn Chỉ.
– Bên trái có nhà bia và nhà hội đồng.
Vậy thực chất các tuần phủ tỉnh Vĩnh Yên thời đó đã chuyển đổi Văn Miếu hàng phủ Vĩnh Tường (Văn miếu Tam Đái xưa) thành văn miếu hàng tỉnh mà không xây mới to lớn hơn. Điều này cũng hợp lẽ, bởi vì đất đai của toàn cả Vĩnh Yên bấy giờ cũng cơ bản là Phủ Vĩnh tường khi xưa, (thậm chí còn nhỏ hơn nhiều khi tách ra làm tỉnh Phúc Yên năm 1901), hơn nữa vẫn còn giữ lại được toàn bộ văn miếu xưa kia.
Không có tài liệu ghi chép nguyên do vì sao Văn Miếu Vĩnh Yên bị phá hủy, chỉ biết rằng những lứa học trò đầu tiên của trường THPT Trần Phú chuyển tới gò Dốc Láp vào đầu năm 1961 thì đã không còn văn miếu ở trên gò mà chỉ còn tấm bia tứ diện phơi nắng phơi mưa.

Văn Miếu mới xây ở Vĩnh Phúc

Văn Miếu mới xây ở Vĩnh Phúc

Trở lại chuyện Vĩnh Phúc xây mới Văn Miếu ở Gò Cháo. Theo văn bản của hồ sơ thiết kế thì văn miếu Vĩnh Phúc được đầu tư xây mới với mục tiêu khôi phục lại Văn Miếu Tỉnh trên cơ sở kế thừa các giá trị văn hóa, lịch sử văn miếu phủ Tam Đới đã từng tồn tại cách ngày nay hơn 300 năm đặt tại xã Cao Đại, huyện Vĩnh Tường.
Thế nhưng quy mô hiện nay có lẽ chắc hẳn vượt cả hàng chục lần văn miếu Vĩnh Yên năm ấy bởi nếu như bản vẽ của ‘Xã chí” chỉ có hai nhà hình chữ NHỊ “=” là Tiền Đường và Hậu Cung , nếu mỗi nhà 5 gian hai trái với 6 hàng cột thì mỗi nhà cũng chỉ rộng 300m2 mỗi nhà, đâu có chuyện lầu cao các tía hai tầng
Ngoài ra nếu cứ lấy hết khuôn viên trường Trần Phú coi đó là đất của văn miếu tỉnh Vĩnh Yên khi xưa thì cũng chỉ có vài ngàn mét vuông là cùng, thế mà văn miếu Vĩnh Phúc hiện nay xây còn to lớn đồ sộ gấp nhiều lần Văn Miếu Quốc Gia, chứ đừng nói gì việc phải nhỏ hơn đến văn miếu hàng tỉnh của tỉnh cũ Sơn Tây ở Trại Gà – Đường Lâm để đúng phép tắc
Do đó nói rằng kế thừa trên cơ sở Văn Miếu Tam Đái là chuyện không có thực, tôi tin rằng ai cũng biết việc này. Tôi không biết hoặc chưa nghĩ ra có cụm từ nào trong sinh ngữ tiếng Việt có thể nói tóm lược của việc đánh tráo khái niệm này , kiểu như “nói vậy, mà không phải vậy!”.

Trong suy nghĩ và tưởng tượng của tôi về văn miếu Vĩnh Yên tỉnh nhà xưa kia, đó là những dãy nhà thấp mà vững chãi, khuất lấp trong những tán cây cổ thụ um tùm ở một gò đất xa làng của miền đất trung du.
Còn nếu có ai hỏi tôi rằng: Văn miếu xưa mất rồi, có nên xây lại không? Từ đáy lòng tôi vẫn mong rằng “CÓ” nhưng vẫn sẽ là hai dãy nhà thấp chữ NHỊ như xưa, khuất lấp trong những bóng cây cổ thụ, mộc mạc mà thành kính như những triết lý của đạo Nho.
Thế xây văn miếu để làm gì? Xin thưa: để biết rằng: Có một nền văn hóa Việt Nam……..

Ảnh minh họa
1. Văn Miếu Quốc Tử Giám xưa và nay
2. Văn Miếu Sơn Tây xưa và nay
3. Bản vẽ văn Miếu Vĩnh Yên & Văn Miếu Vĩnh Phúc bây giờ.

Tham khảo
1. Long Cương Văn Tập – Cao Xuân Dục.
2. Kỷ yếu hội thảo khoa học văn miếu Vĩnh Phúc (VHN- 2007)
3. Truyền thống hiếu học và hệ thống văn miếu ,văn từ, văn chỉ ở Vĩnh Phúc ( Sở VHTT&DL Vĩnh Phúc- TS Nguyễn Hữu Mùi)
4. Nghiên cứu văn văn bia Vĩnh Phúc (Sở VHTT&DL Vĩnh Phúc)
5. Đồng Khánh địa dư chí